Home > TinTức > – Chúa thương dân ngoại (tiếp)

– Chúa thương dân ngoại (tiếp)

27/02/2011

Chương IV: MỘT TRUYỀN THỐNG BẰNG LỜI

của J. Trần Sĩ Tín CSsR (Tóm kết)

GPKONTUM (27.02.2011) KONTUM. Truyền thống Jrai nằm trong AKHAN, LỜI CẦU, CHÂM NGÔN TỤC NGỮ. Đặc biệt J. Dournes nói về các AKHAN JRAI: những chuyện kể, những trường thi, những anh hùng ca, những huyền thoại Jrai… vốn phản ánh những ước mơ của họ (trg.60, hàng 17 từ trên xuống), là những hành động do ý thức tôn giáo, tạo thành một cơ cấu tín lý, qui định những giá trị, dựa trên một sự kiện được diễn tả bằng hình ảnh, một hành động hơn là chuyện kể suông, với mục đích làm nên những nghi thức tôn giáo (trg. 75, hàng 11 từ dưới lên). Ta có thể nói cách khác: AKHAN JRAI là một loại văn như những mật thư, mà nếu ta tìm ra được cái chìa khóa, ta sẽ biết được vũ trụ quan và nhân sinh quan có tính tôn giáo của người Jrai (trg. 80, hàng 5, từ trên xuống). AKHAN như là “Thánh Kinh” của họ được kể hằng ngày, không thể bỏ qua, hay hủy diệt AKHAN để loan báo Tin Mừng (trg.78, hàng 16 từ trên xuống). Thiên Chúa đã lớn tiếng nói với dân Israel qua các vị ngôn sứ, cũng đã thầm thì nói với tâm thức dân Jrai qua các huyền thoại lưu truyền (trg.78, hàng 4 từ dưới lên). Kinh Thánh đã điều chỉnh những huyền thoại của dân ngoại để mạc khải chân lý (trg.80, hàng 13 từ trên xuống). Và J. Dournes đã áp dụng phương pháp sư phạm Kinh Thánh này trong công cuộc hướng dân đức tin Jrai: tôi trình bày tín lý cho họ bằng chuyện kể linh thánh (trg.81, hàng 6 từ trên xuống). Để gặp gỡ tâm hồn Jrai, tôi phải nói với họ bằng ngôn ngữ các Yang và tổ tiên họ, chứ không chỉ nói bằng ngôn ngữ phàm tục học được trong vài tháng (trg.75, hàng 13).

Hiện tại người Jrai vẫn đang có gắng học giáo lý bằng cách kể cho nhau nghe tất cả các chuyện Kinh Thánh, liên hệ với những chuyện AKHAN và những chuyện hiện tại.

 

Chương V: MỘT TRUYỀN THỐNG HÀNH ĐỘNG

 

Truyền thống lời chuyển qua, biến thành hành động hay thực hành. Lời đã có tính tôn giáo thì hành động là nghi lễ. J. Dournes trong chương này nói về tế lễ hay nghi lễ Jrai, ông gọi là “huyền thoại được hiện hành” (le mythe actualisé) và những gì cần thích nghi.

Nghi lễ Jrai trước nhất bao gồm một CỘNG ĐỒNG (cộng đoàn). “Người ta cùng nhau tế lễ cùng như người ta cùng cuốc và cùng gieo trồng với nhau… Ngoài cộng đồng, không còn tôn giáo, cũng như không thể có lao động; từ bỏ những nghi thức ruộng đồng, là từ bỏ trồng trọt; chấm dứt những nghi lễ trong gia đình là tự lên án triệt sản. Làm sao mà có thể trở thành Kitô hữu một mình được?” (trg. 85, hàng 19 từ trên xuống).

Yếu tố thứ hai là LỜI CẦU mời thần linh tới cùng ăn cùng uống và những của ăn của uống ấy tương đương với của lễ hiến dâng.

Yếu tố thứ ba là VẬT HY TẾ ĐỔ MÁU – thịt được chia cho hết mọi người. Còn yếu tố thứ tư là mọi người tham gia đều HIỆP LỄ với thần linh và với nhau. Một sự say sưa, ở một mức độ nào đó, làm cho cộng đồng hụt hẫng và như là bước vào cõi đời sau (trg.85-86).

Nghi lễ nhằm tìm một sự bảo đảm (an lành mạnh khỏe), một sự đền bù (cho những lỗi phạm), một sự trao đổi với thần linh như câu chuyện: Con Trời xuống trần gian, đến với một người nữ rất nghèo, và hỏi cưới. Người phụ nữ rất xấu hổ bối rối vì chị chỉ có một tấm váy rách nát. Con Trời lấy cái váy của chị đánh đổi với lúa gạo ê hề… Ông Trời yêu người nghèo biết hiến dâng mọi sự, hay đúng hơn làm cho người nghèo biết hiến dâng tất cả để đưa người nghèo vào một tình trạng sung sướng hơn (trg.89).

Môi trường tối ưu cho nghi lễ là NƯỚC. Nước tẩy uế, như trong trường hợp loạn luân, đụng vào xác chết hay tẩy gở, thả trôi theo dòng xuống hạ lưu, cũng là phía mặt trời lặn, miền tăm tối. Nước thanh minh trong trường hợp một người bị tố cáo trộm cắp hay ma lai, chịu lặn nước cùng với một người bên tố cáo: ai lặn lâu hơn, người ấy vô tội. Những nghi thức liên quan đến nước như thế đã khiến J. Dournes dịch Baptizare là Dìm chứ không phải là Rửa như thường thấy (trg.91, hàng 7 từ trên xuống).

Nghi lễ đồng hành với người Jrai từ trong lòng mẹ, trong mỗi giai đoạn của cuộc đời, cho tới sau khi chết. Nhận ra đây là những tiền bí tích trong tiền mạc khải, J. Dournes có những thích nghi dựa trên truyền thống Thánh Kinh và Hội Thánh như trong thư Thánh Grêgoriô Giáo Hoàng gửi cho Mellitus: “Không thể vứt bỏ một lần tất cả những tập tục của họ: người ta không thể nhẩy một cái lên nơi cao, người ta leo lên từng bước một”. Và vị thừa sai nào tại Á Châu cũng biết Chỉ Thị năm 1659 của Công Đồng Juthia: Đừng có nhiệt tình, viện vào bất cứ lý do nào để thuyết phục các dân tộc này thay đổi những nghi thức, những thói quen và những tập tục của họ, trừ phi rõ ràng trái với đạo và luân lý. Còn gì phi lý cho bằng bê cả nước Pháp, nước Tây Ban Nha, nước Ý vào cho người Trung Hoa. Đừng có đưa đất nước chúng ta, nhưng là đưa đức tin đến với họ, một đức tin không xua đuổi, cũng không xúc phạm đến các nghi thức hay tập tục của bất cứ dân tộc nào, miễn là chúng không đáng trách, trái lại còn muốn người ta giữ lại và bảo vệ chúng nữa” (trg 94-97).

Thế rồi, J. Dournes đã có những thích nghi cụ thể như nghi thức cầu nguyện cho các bệnh nhân, chiêng trống cồng, nghi lễ Cầu Mùa…Và tác nhân của công cuộc thích nghi này là các người nòng cốt, các giáo lý viên trong các cộng đoàn. Chỉ có người Jrai mới biết được tâm hồn và lỗ tai của người Jrai và biết được tâm tình tôn giáo của họ. Chỉ có người kitô hữu Jrai sống đạo mới có thể chỉ cho ngưởi Jrai biết Kitô giáo là như thế nào. Giáo lý viên là môi trường lý tưởng cho việc thích nghi, nơi họ, qua sự tiếp xúc với người thừa sai sẽ hình thành người kitô hữu Jrai, bằng việc thăng hoa những hạt giống linh thiêng tàng ẩn. Giáo lý viên là những tác nhân lý tưởng của việc thích nghi; nhờ họ – bằng đời sống và sự giảng dạy của họ – Kitô giáo sẽ tìm ra một cách diễn tả mà dân ngọai có thể lĩnh hội được. Vì thế, nếu mối lo đầu tiên của tôi là học tiếng, thì mối lo thứ hai của tôi là đào tạo những người phụ tá như thế (Trg 103). Và thời gian chính để thích nghi đó là thời gian DỰ TÒNG, là thời gian vừa để nhận ra những gì Thiên Chúa đã khởi sự nơi con người và vừa để tiếp thu những gì Thiên Chúa muốn hoàn thành trong Chúa Giêsu, nghĩa là hoán cải đổi mới (Trg.105). Việc thích nghi và hoán cải lại vẫn là công việc của Chúa Thánh Thần (Trg.106).

 

Chương VI: CĂN BỆNH CỦA TÔN GIÁO

 

Chúng ta đã nói người Jrai đã có tôn giáo. Nhưng xét theo hiện tượng của con người thì ngoài những cái hay cái đẹp, tôn giáo nào cũng hàm chứa những giới hạn, những căn bệnh có thể làm cho suy thoái, lệch lạc, nếu không kịp thời sửa chữa và đổi mới. Vậy tôn giáo Jrai cũng đã già cỗi và đang suy thoái, do nhưng nguyên nhân nội tại, và do những nguyên nhân ngoại lai.

J. Dournes cho thấy về mặt nội tại, hệ thống tôn giáo Jrai đang suy thoái vì tính cộng đồng hoàn toàn lấn lướt lương tâm cá thể, nghi thức biến thành hình thức và ma thuật rồi bói toán. Lại cũng có xu hướng tự nhiên tục hóa mọi sự. Thực tế thay vì là dấu chỉ cho một cái gì đó cao hơn, sâu hơn, linh hơn thì lại chỉ còn là thực tế suông. Thay vì một môi trường toàn linh, thì chỉ còn một môi trường trần tục và duy vật. Đây là một hiện tượng toàn cầu, có thể xẩy đến bất cứ nơi đâu, cho bất cứ tôn giáo nào.

Về những nghuyên nhân ngoại lai, J. Dournes cho thấy ảnh hưởng của thế giới hiện đại, thế giới của tiền bạc, thế giới của khoa học kỹ thuật như muốn trở thành thuyệt đối, thế giới mà người Jrai phải hội nhập qua những con người được gọi là “ưu tuyển”(công chức), qua lớp trẻ được đào tạo tại các nhà trường… Cũng không thể không nói đến ma quỉ phá hoại. Lại còn có bệnh hoạn của chính công cuộc truyền giáo (pathologie de la mission). Xin trích nguyên văn:

“Các tín hữu bị xa cách việc phụng tự vì một thứ ngôn ngữ họ không hiểu, vì những nghi thức mà họ không nhận ra ý nghĩa, bỏ mặc cho linh mục thay thế họ mọi sự trên bàn thờ, không những dâng lễ thay thế họ, mà còn hiệp lễ thay họ nữa. Tính phù phép thấm nhập vào quan niệm về các bí tích, vốn cứ tự nhiện thành, cho dù thụ nhân có thế nào đi nữa. Căn bệnh duy lý cũng đến vô huyền nhiệm hóa (démythifie) tâm thức tôn giáo. Trong sứ vụ loan báo Tin Mừng cho các dân tộc, những con người của Hội Thánh đã phạm sai lầm, nhất là vì không coi trọng tâm thức tôn giáo của các dân tộc, cho dù họ là dân ngoại, nhưng không hề vô thần” (trg.117, hàng 16, từ dưới lên).

Lại còn cơn cám dỗ muốn hữu hiệu, muốn thành công bằng những phương tiện làm cho người ngoại nghĩ rằng Giáo Hội giầu sang, dụ dỗ họ, áp đặt bằng của cải, bằng quyền lực…Làm sao tôi có thể nghi ngờ được rằng chỉ có Chúa Giêsu mới hoàn tất công cuộc tông đồ, chứ không phải bằng những phương tiện mà loài người tự tạo? Nếu tôi vận dụng những phương tiện và kỹ thuật trần gian, Chúa Giêsu sẽ không có đó; Ngài chờ thất bại, lúc đó Ngài can thiệp. Thế gian coi đó là vô lý; nhưng ai tin cậy vào Lời, se gặt hái (trg. 121).

(Còn tiếp)

%d bloggers like this: