Home > TinTức > – Chúa thương dân ngoại

– Chúa thương dân ngoại

28/02/2011

Chương VII: HOÁN DỊCH VÀ HOÁN CẢI

 

GPKONTUM (28.02.2011) KONTUM. Tạm chuyển ngữ VERSION ET CONVERSION như thế. VERSION là chuyển dịch ngôn ngữ gốc bản địa sang ngôn ngữ của mình (coi lại trg.21, hàmh 7 từ trên xuống), chứ không lấy ngôn ngữ của mình mà chuyển dịch sang ngôn ngữ bản địa (THÈME). J. Dournes làm hai công việc này chủ yếu trong thời gian DỰ TÒNG.

Một công việc dịch thuật ngữ học, một công trình mục vụ hoán cải. Hai công việc có vẻ khác nhau, thực ra công việc trước chuẩn bị cho công việc sau. Trong tiếng Jrai cả hai đầu gọi là PƠBLIH. Đó là tất cả công việc của tôi ở đây, cùng các giáo lý viên; tất cả thời gian mà chúng tôi không đào tạo dự tòng, chúng tôi dùng để chuyển dịch, chỉnh, sửa không ngừng, cho công việc giảng dạy và xuất bản.

Về DỊCH THUẬT, nếu ta giả thiết rằng người ngoại là không có tôn giáo, thì ta chẳng đi tới đâu, ta sẽ không biết đến từ ngữ tôn giáo của họ và rồi ta sẽ tự tạo ra cho họ một thứ từ ngữ vừa xa lạ vừa không phù hợp. Họ chỉ có việc trả bài thuộc lòng để làm vừa lòng vị thuyết pháp tôn giáo mới và dĩ nhiên là tôn giáo cũ vẫn còn đó, nguyên vẹn… Ngày xưa các vị thừa sai bắt con người ta dùng tiếng la tinh và cả tiếng Hy Lạp  mà họ chẳng bao giờ lĩnh hội được… Còn tôi chẳng bao giờ phải nhờ tới một tiếng ngoại quốc nào – trừ những tiếng mọi người sử dụng như AMEN, HALLÊLUYAH – bởi vì tôi tìm thấy trong thổ ngữ Jrai tất cả những gì cần thiết để chuyển lại cho họ những gì mà Chúa muốn nói với họ (trg.129-130). J. Dournes cùng với các trưởng cộng đoàn tìm hiểu, chỉnh, sửa, nâng cao để có một ngôn ngữ nhà Đạo Jrai, biết rằng chưa hoàn chỉnh, chưa cố định, nhưng dù sao cũng cố tránh những nghịch nghĩa, hay giảm nghĩa như baptizare chỉ còn là “rửa tội”, nếu không phải là “rửa đầu”. Không biết tư tưởng Jrai, cũng như không biết nội dung mạc khải cho đủ là phản bội cả hai.Và rồi J. Dournes dịch cùng với các bạn dịch Kinh Thánh, xuất bản những bản tin, những tập giáo lý. Giáo Lý của ông không theo kiểu hỏi thưa, vì ông cho rằng như thế là làm cho người ta có xu hướng đọc thuộc lòng mà không cần suy nghĩ. Ông muốn để các giáo lý viên tự đắt câu hỏi và người dự tòng tự trả lời tại chỗ. Những câu trả lời tự phát như thế, không những cho kiểm tra sự hiểu biết của học viên, mà nhiều khi điều chỉnh ngay những từ ngữ mà ông đã dùng.

Ông theo sát qui chế Dự Tòng gồm các giai đoạn: Dự Thính, Lên Thang, Thềm Nhà (ană adring – dự tòng), Nhập Gia (ană sang – thanh tẩy). Thời gian dự tòng là ba năm:

1. Giải thích Kinh Tin Kính với những thay đổi trong cuộc sống. Học Kinh Mân Côi.

2. Kể chuyện Cựu Ước theo tâm thức Tiền Kitô. Bắt đầu cầu nguyện theo Thánh Vịnh.

3. Kể chuyện Tân Ước, liên kết với đời sống Hội Thánh, dẫn đưa vào cac Bí Tich Nhập Đạo. Các dự tòng suy gẫm cầu nguyện theo Kinh Lạy Cha và tập sự thờ phượng.

Rồi các người tân tòng được khai tâm vào đời sống bí tích, theo Tin Mừng Thánh Gioan và học lịch sử Hội Thánh.

Khi tôi nói với các giáo lý viên về nhiệm vụ rao giảng của chúng tôi, thay vì dùng động từ “pơtô” (dạy), tôi dùng động từ “pơjuat” (huấn luyện, làm quen). Những bài học của chúng tôi là những chuyện kể, được tiếp nối bằng cử hành nghi lễ. Không có phương pháp thính thị nào thích hợp bằng phụng vụ. Đối với giáo lý viên, tôi nhấn mạnh đến vai trò gương lành; đối với dự tòng, tôi xin họ đem ra thực hành ngay những điều họ mới học, bằng cách làm cho làng xóm họ trở lại nhờ gương sáng đời sống, những cuộc thăm viếng bệnh nhân, những cuộc trao đổi về đạo… (trg.143).

Một chút tôn giáo chẳng làm cho người ta gần Chúa, một chút khoa học lại làm cho người ta xa Chúa. Cho nên J. Dournes còn muốn truyền đạt cho tất cả người Jrai một kiến thức căn bản, chính xác và đúng đắn về khoa học theo tầm nhìn của Teilhard de Chardin. Tuy nhiên, cho dù ông có làm tất cả những công việc mà ông cần làm, ông vẫn cho là chưa làm được trọn vẹn vì rất có thể ông không gặp được con người sống động – nhất là con người sẽ sống ngày mai – trong một thế giới luôn chuyển động, mà con người đó có thể chưa thích ứng được (trg.149).

 

Chương VIII: CUỘC SỐNG TRÊN NẤM MỒ

 

Để kết thúc cuốn sách mô tả “một sứ vụ của Hội Thánh trên Cao Nguyên Việt-Nam”, J. Dournes nói tới Lễ Hội Nhà Mồ của người Jrai, nói tới sự chết và sự sống của người Jrai. Lễ Hội lớn nhất là Lễ Hội Bỏ Mả. Nhưng thực sự lễ hội đã bắt đầu với đêm canh thức người qua đời (krong), với lễ an táng (pơyua), lễ tắm rửa (huă mơnơi), lễ bỏ cơm (lui asơi), lễ tháng (huă blan), lễ năm (huă pơsat). Tất cả đều căn cứ từ những AKHAN.

Chúng ta không thể coi đó là một nghi lễ phàm tục biểu hiện lòng tôn kính đối với nhưng người quá cố – và hả hê vì đó không có tính tôn giáo. Chúng ta cũng không thể lên án tất cả, xóa bỏ và thiêu cháy – nó vẫn sẽ tiếp tục. Chúng tôi đã bắt đầu nghiên cứu thực tế với những hệ lụy tình cảm, một cách nghiêm túc và khoan dung; chúng tôi đã nhận ra nó có bản chất tôn giáo – yếu tố giá trị tích cực, cần hoán cải mà không giải linh (désacraliser)…Biết được sức lôi cuốn của lễ hội này, từ lâu chúng tôi đã hướng lễ hội này về Kitô giáo, làm cho người Jrai tìm lại được cộng đồng trong ơn cứu độ (trg. 152).

Trong lễ hội này, người sống, người qua đời, cùng với tổ tiên hòa quyện với nhau. Người Jrai quá cố được coi như là yang (linh), họ sống (chúng ta mới là những người chết) nhưng người ta không thấy được họ; người ta dâng cho họ những của lễ mà người kitô giáo chúng ta không chấp nhận được (trong nghi lễ cúng tô tiên – “ngă yang prin-tha” – họ sẽ được liệt kê vào danh sách tổ tiên được mời về cùng ăn cùng uống với con cháu, phù hộ cho con cháu).

Đối với người Jrai, sự chết chỉ là một tai nạn hủy diệt thân xác hiện tại của chúng ta và đưa chúng ta về một nơi khác: Hãy đi về miền xa, đất lạ, nước khác (Nao pơ lon pleh, dêh pha, ia pơkon). Họ tưởng nhớ tới người quá vãng mà họ biết rằng đang sống…Pơsat (Nhà Mồ) là một dấu chỉ hữu hình về gia đình chân thật và sống động; nó là tác nhân (chúng ta có thể nói: cơ hội) qui tụ con người chung quanh một nấm mồ, qui tụ những con người đó với nhưng người quá vãng, bằng những lễ vật mà người ta chôn theo (pơtui) gửi vào đời sau; theo nghĩa Jrai, pơsat thể hiện điều nó là dấu chỉ, nó thực sự là bí tích của gia đình, bí tích của sự sống và của sự phong nhiêu tiếp nối trong môi trường này. Để thực sự hóan cải pơsat, chúng ta phải làm bật rõ hai quan niệm: sự phục sinh thành Sự Sống của Đấng Sống Lại, gia đình xác thịt mẫu hệ thành Hội Thánh của những con cái Chúa; phản đề Jrai sẽ được giải quyết thành hiệp đề kitô giáo trên nấm mồ cũa Đức Kitô (trg.158).

 

Ý KIẾN CỦA NGƯỜI TÓM KẾT:

Không cần biết J. Dournes đã thực hiện được những gì (thực ra là ông đã đóng góp rất nhiều cho Sứ Vụ Tin Mừng, cho Hội Thánh, cho dân tộc Jrai), chỉ biết rằng đối với người Jrai, J. Dournes dần dà không còn là người lạ, người ngoại quốc, nhưng đã trở thành người Jrai: ăn, nói, sống, suy nghĩ và hiểu người Jrai hơn cả người Jrai. Có cái gì đó giống với Đức Giêsu, khi được sai đến loan báo Tin Mừng của Cha, Ngài “đã làm người và ở cùng chúng ta” (Ga 1,14). Không có nhập thể, không có hội nhập văn hóa, không có Sứ Vụ Tin Mừng. Được gọi là thừa sai, chúng ta có được đào tạo như thế không? Chúng ta có sống như thế không? Thế mà J. Dournes vẫn còn băn khuăn. Nơi những hàng cuối cùng của cuốn sách, J. Dournes viết:

Vấn đề không phải là ấp ủ một vài kitô hữu, hạt giống phải được nảy mầm trong toàn dân; tôi không hướng tới một vài cuộc thanh tẩy để tự an ủi, nhưng là tới hằng ngàn người được thành thánh, khi Chúa muốn, bởi một ngày kia họ sẽ nghe được tiếng gọi (trg 166).

Linh Mục  Giuse Trần Sĩ Tín CSsR

TÓM KẾT

 

%d bloggers like this: