Home > TinTức > – Gốc Tích Cây Cà-phê Sẻ tại Kontum.

– Gốc Tích Cây Cà-phê Sẻ tại Kontum.

04/03/2011

Gốc Tích Cây Cà-phê Sẻ tại Kontum.

GPKONTUM (04.03.2011) KONTUM. Năm nay cà-phê được giá. Dân vui lắm. Cà-phê Việt-nam ngày càng có tiếng trên thương trường thế giới. Nhiều cửa hàng biến chế cà-phê có tiếng, thơm ngoan, vì đã chọn loại cây cà-phê được trồng trên vùng đất đỏ Tây Nguyên: Ban-mê-thuột, Gialai, Kontum.

Thưa quí vị, năm nay 2011, cà-phê (vàng đen, dân nói thế) có giá. Dân vui, nhà nước cũng hảnh diện và an tâm hơn. Nhưng thử hỏi ai đã đưa cây cà-phê và đem trồng lần đầu tiên tại vùng đất Kontum này? Chúng tôi xin viết nguyên văn tài liệu nói về việc trồng cây cà-phê, đề cập khó khăn và những thăng trầm trong giai đoạn đầu tại đất Kontum. Câu chuyện này được viết thuật lại cách đây 76 năm (1935-2011) rồi, câu văn địa phương, nhưng chân chất thật thà, và thâm tình muốn cổ vũ người làm vườn vượt khó, chuyên chăm trồng cây cà-phê vì loại cây này rất nhiều hữu ích khác nữa như lá chữa bệnh. Người đã đem cây cà-phê lên Kontum và trồng  đầu tiên tại Rơ-Hai (Tân Hương ngày nay), đó chính là cha Phê-rô Nguyên  (ở  sở Rơ-hai năm 1877, qua đời 1891). Hôm nay cây cà-phê được giá, thử hỏi câu: “ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY” có gợi lên điều gì trong lòng chúng tôi?. Lòng chúng tôi không gì hơn là thử tìm gốc tích cây cà-phê được trồng trên vùng Kontum như phần nào tỏ tâm tình NHỚ CÔNG ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐI TRƯỚC. Vậy, xin mời QUÍ VỊ đọc bài có tựa đề GỐC TÍCH CÂY CÀFÊ SẺ XỨ KONTUM sau đây (trích trong Nguyệt san “CHỨC DỊCH THƠ TÍN”, ĐỊA PHẬN KONTUM, tháng Octobre 1935, số 30 trang 335, bài viết của cha P. Ban) trong phần II.

Kontum ngày 04.03.2011

 

Phần I – Dự Báo Về Sản Lượng Cà-phê Vụ 2010/2011.

Phần II:  Góc Tích Cây Cà-phê Trên Vùng Kontum.

 

Phần I: Dự Báo Về Sản Lượng Cà-phê Vụ 2010/2011.

Sau đây chúng tôi xin đưa lên đây tài liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ đưa ra dự báo mới về sản lượng ca-phê thế giới trong năm 2011. Chúng tôi xin đính kèm về Sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của Việt Nam có thể tăng 6,9% . Theo Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ ở mức ổn định khoảng 1 triệu tấn/năm với 500 nghìn ha diện tích.

USDA: Sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2010/11 sẽ đạt kỷ lục 139,7 triệu bao

 

Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) vừa đưa ra dự báo mới nhất về sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2010/11. Theo đó, sản lượng cà phê của Braxin sẽ đạt kỷ lục 55,3 triệu bao, tăng 10,5% so với niên vụ trước đó. Sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ đạt 18,7 triệu bao, tăng 1,2 triệu bao. Sản lượng của Indonesia sẽ đạt 9,6 triệu bao, tăng 450.000 bao. Và sản lượng của Colombia sẽ ở mức 9 triệu bao, so với 8,2 triệu bao của niên vụ 2009/10.

USDA cho rằng, bởi Braxin là nước trồng cà phê lớn nhất thế giới, nên sự gia tăng về sản lượng của nước này sẽ giúp sản lượng thế giới đạt kỷ lục 139,7 triệu bao trong niên vụ tới, tăng 14 triệu bao so với niên vụ 2009/10.

Trước đó, Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) đã dự báo, Braxin có thể sản xuất 47 – 50 triệu bao cà phê trong niên vụ 2010/11.

USDA dự báo, xuất khẩu cà phê thế giới sẽ ở mức 103,4 triệu bao trong vụ 2010/11, tăng 5,1 triệu bao so với vụ trước đó.

Trong tháng 5, Neumann Kaffee Gruppe dự báo sản lượng cà phê thế giới sẽ đạt 147,9 triệu bao, từ mức 124,1 triệu bao của vụ trước đó, nhưng lưu ý rằng sản lượng của Colombia vẫn ở mức thấp.

Fortis Bank Nederland and VM cũng đã đưa ra dự báo tình hình sản lượng cà phê thế giới vụ tới giống với dự báo của USDA khi cho rằng thế giới sẽ sản xuất 139,68 triệu bao cà phê, với sản lượng kỷ lục của Braxin là 52,28 triệu bao, tăng so với 47,27 triệu bao vụ trước đó.

Còn các nhà phân tích của CoffeeNetwork dự báo thế giới sẽ đạt sản lượng kỷ lục 139,8 triệu bao cà phê trong niên vụ 2010/11.

 

Dưới đây là dự báo của USDA về tình hình cung cầu cà phê thế giới niên vụ 2009/10 và 2010/11 đưa ra ngày 18/6 vừa qua

 

Niên vụ mới bắt đầu từ ngày 01/7.

ĐVT: triệu bao loại 60 kg.

 

2009/10 2010/11
Sản lượng
Brazil 44,8 55,3
Colombia 8,2 9,0
Indonesia 9,2 9,6
Việt Nam 17,5 18,7
Thế giới 125,7 139,7
Xuất khẩu
Brazil 29,1 32,0
Colombia 7,9 8,8
Indonesia 7,7 8,1
Việt Nam 16,8 16,8
Thế giới 98,3 103,4
Dự trữ cuối vụ
Brazil 3,5 7,3
Colombia 0,3 0,2
Indonesia 0,1 0,1
Việt Nam 1,5 2,3
Thế giới 31,3 36,3

(Theo Vinanet)

Sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của Việt Nam có thể tăng 6,9%

Ngày: 09/08/2010

Tuy chưa bước vào vụ thu hoạch của cà phê Việt Nam nhưng Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của nước ta có thể tăng 6,9% lên 18,7 triệu bao, tương đương với mức dự báo của các tháng trước đây, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Trong đó sản lượng cà phê Robusta đạt 18 triệu bao và sản lượng cà phê Arabica đạt 0,4 triệu bao, cao hơn dự báo của Fortis Bank Nederland là 18,4 triệu bao.

Theo Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ ở mức ổn định khoảng 1 triệu tấn/năm với 500 nghìn ha diện tích.

Vụ thu hoạch cà phê 2010/11 đã bắt đầu ở một số quốc gia bao gồm Braxin, Indonexia, Papua New Guinea và Peru. Theo ước tính của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), tổng sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ này sẽ đạt mức 133-135 triệu bao. Thu hoạch của Braxin diễn ra thuận lợi nhờ thời tiết nắng và dự báo sản lượng đạt khoảng 50 triệu bao trong khi sản lượng của Colombia dự kiến đạt 10-11 triệu bao. Sản lượng tại Ấn Độ và Ethiopia dự tính đạt mức 5 triệu bao.

Niên vụ cà phê 2009/10 đã kết thúc ở hầu hết các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới. Theo ước tính của ICO, tổng sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ này đạt mức 120,6 triệu bao, giảm 5,8% so với sản lượng niên vụ 2008/09.

Sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của Việt Nam có thể tăng 6,9% Thứ bảy, 3:42 | 07/08/2010

Tuy chưa bước vào vụ thu hoạch của cà phê Việt Nam nhưng Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2010/11 của nước ta có thể tăng 6,9% lên 18,7 triệu bao, tương đương với mức dự báo của các tháng trước đây, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trong đó sản lượng cà phê Robusta đạt 18 triệu bao và sản lượng cà phê Arabica đạt 0,4 triệu bao, cao hơn dự báo của Fortis Bank Nederland là 18,4 triệu bao.

Theo Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ ở mức ổn định khoảng 1 triệu tấn/năm với 500 nghìn ha diện tích.

Vụ thu hoạch cà phê 2010/11 đã bắt đầu ở một số quốc gia bao gồm Braxin, Indonexia, Papua New Guinea và Peru. Theo ước tính của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), tổng sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ này sẽ đạt mức 133-135 triệu bao. Thu hoạch của Braxin diễn ra thuận lợi nhờ thời tiết nắng và dự báo sản lượng đạt khoảng 50 triệu bao trong khi sản lượng của Colombia dự kiến đạt 10-11 triệu bao. Sản lượng tại Ấn Độ và Ethiopia dự tính đạt mức 5 triệu bao.

Niên vụ cà phê 2009/10 đã kết thúc ở hầu hết các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới. Theo ước tính của ICO, tổng sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ này đạt mức 120,6 triệu bao, giảm 5,8% so với sản lượng niên vụ 2008/09.

Nam Phạm

 

 

 

Phần II:  Góc Tích Cây Cà-phê Trên Vùng Kontum.

 

GỐC TÍCH CÂY CAFÉ-SẺ Ở XỨ KONTUM

Cây café-sẻ theo tiếng tây kêu là moka hay là arabica, là thứ nhỏ hột và nhỏ lá. Chư vị có biết gốc tích cây café sẻ có tại xứ Kontum, ai đã đem lên mà trồng trước hết ở xứ này? Tôi xin thuật lại lời thầy Hộ, xưa là một chú giúp cha Do, đã theo người từ khi mới mở đạo Kontum, thầy sống lâu, mới qua đời ít năm nay mà thôi.

Thầy kể rằng: “bây giờ xứ Kontum có nhiều café và là thứ café-sẻ thì có tiếng, là nhờ cha Nguyên đã đem lên mà trồng tại Rơhai trươc hết. Cha Nguyên, là một cha Annam, đã lên xứ mọi kế cha Do, người là học trò Pi-năng. Khi người còn học ở Pi-năng, người thấy cha giữ việc nhà trường, hễ thấy học trò nào hay đau rét, thì biểu đầu bếp làm café cho uống mỗi bữa sáng. Phần người cũng đã nhờ nhiều khi, mà người thấy trong mình, hễ có uống café thì hết rét và cách phấn chấn trong mình. Nên người chíp trong bụng, sau về thì sẽ kiếm hột về trồng thử trong xứ mình. Vậy khi người học mãn trường mà sửa về, thì tới cha giữ việc, xin một mớ café hột: người lựa cho lấy hột tốt, phơi phong khô ráo, rồi gói kỹ bỏ vào rương đem về”.

“Khi người về tới Annam, thì đức cha chỉ người lên mọi, vì người cũng là người xứ Đồng Quá, một quê với cha Do, nên đức cha định như vậy, theo lòng cha Do ước ao. Khi tới Rơhai, cha Nguyên sắp soạn đồ đạc, người đem ra một gói hạt gì lạ vậy. Người trả lời đó là hột thuốc, cha đã kiếm ở Pi-năng đem về. Nó trị bịnh rét, người Annam ở xứ này hay rét, nếu như nó chịu đất, thì sau ta sẽ nhờ lắm, cha sẽ trồng thử. Nói đoạn, người bảo hai chú lớn đi với người, xách quốc ra phía sau vườn. Người biểu dọn một chỗ đất im, mát bỏ phân lạt tử tế, đoạn chính tay người ươm những hạt café ấy. Cách ít lâu thì thấy mọc lên xinh tốt, người dạy bứng đem trồng xung quanh nhà vuông. Cách vài năm thấy nó lớn lên xanh tốt, có lá xum xuê, thì các chú thưa với cha: bây giờ cắt lá nó đem nấu uống như chè Huế vậy hay sao? Người trả lời: không, cha thấy bên Pi-năng, rang hột nó, rồi xay ra bột nấu uống, chớ không uống lá. Tưởng nó sẽ có trái có hột, để côi. Mà sự thật, cách năm sau thì nó ra trái dóc díu, nên người lấy làm mừng mà nói rằng: đất này sẽ chịu café lắm, chắc sau người ta sẽ đặng nhờ. Đến khi trái chín, người dạy hái giả phơi khô, rang nấu uống và cũng gởi cho các cha uống thử; các cha cũng xin hột để trồng nữa. Song ngặt một điều, là ở xứ mọi hồi đó không có đường, nên uống lấy làm đắng lắm”. Đó là lời của thầy Hồ kể lại như vậy đó.

Lời thầy Hồ thuật lại tưởng cũng đáng tin, vì trong báo Missions catholiques, cố chính Cẳng có thuật lại những vật ẩm thực ở xứ mọi hồi ấy, người có nói rằng: “Ở Rơhai chúng tôi có trồng những cây moka café còn non tơ, xanh tốt, có lẽ phong thổ xứ này chịu café”. Ấy là lời cố chính viết trong sách. Bây giờ chúng ta cũng có nhiều làng đã trồng café và cũng có nhiều chủ đã có lợi khá. Ta ăn trái nên nhớ kẻ trông cây.

Café vốn có nhiều thứ, song theo những kẻ thạo dùng café thì giống loại café monka là ngon, dùng hay tiêu bổ hơn, song khốn nỗi thứ café này khó trồng, hơn nữa lại hay bị con bò xè ăn, nên ít chỗ trồng được. Ngoài Tônkin và trong Nam Kỳ, có nhiều đồn điền trồng café song gần hết là cây café lớn lá, trái to, nghe nói uống ít ngon. Còn thứ café-sẻ ít trồng được, vì phong thổ không chịu, có nhiều sở đã thử rồi, song vô ích.

Các xứ mọi như Kontum, Pleiku, Banmêthuật, chỗ nào trồng café cũng được, song tưởng có chỗ hạp hơn, chỗ ít hạp. Tôi đã có ý xem xét café trồng ở ba xứ trên này, thì đoán được. Chỗ đất đỏ và có cây im mát thì café chịu hơn. Vốn café là thứ cây ở rừng. Trong nhựt trình kia kể chuyện rằng: “Thuở xưa người ta chưa biết càfê là gì, song có một lần kia, có một ngưởi Ả-Rập, thấy trong bầy dê của mình có một con dê hay bị ốm lại hay rét run. Mỗi lần hết cơn run thì nó lại tìm trong rừng một thứ lá kia mà ăn, ấy là là moka hay là abarica bây giờ. Cách ít lâu, chủ con dê có ý coi con dê thì thấy hết đau và mập mạp như thường, nên người ấy đi bẻ lá ấy về nấu uống, thấy cũng được được. Đến mùa thấy trái nó chín tốt thì lại bỏ hái lá, đi hái trái nó, phơi khô dã nấu uống thì thấy bổ khỏe. Lần lần ngươi ta bắt chước và lấy hột ươm trồng gần nhà, cho tiện bề da dụng. Ấy là gốc cây càfê, vốn nó là cây rừng nên rẫy nó ưa trồng nơi rừng rú im mát. Chỗ phong thổ chịu mà không có cây im bóng thì trồng càfê tốn công nhiều vì phải trồng cây bóng, phải bón phân. Tôi thấy nhiều sở làm đất kỹ lắm, đào hết gốc cây, bỏ phân thiệt nhiều, song đến mùa nắng thì càfê héo hết và con bò xè hay ăn nhiều. Còn những người nhà quê, trồng ít nhiều theo lối bóng mát xung quanh nhà, không tốn kém bao nhiêu, song càfê vẫn tốt và lợi nhiều hơn trồng thứ khác”.

Vậy khuyên ai hãy chiệm nghiệm và trồng càfê ít nhiều, trước thì cũng có lợi mà lo việc thuế viết, sau thì trong vườn mình có hoa lợi, nên có việc gì chích míc, ít hay chạy, vì tiếc. Còn không, vườn trống thì hay chạy lắm, mà sự chạy cũng là sự thiệt hại nhiều. Sự trồng càfê cũng như các nghề khác, tùy gia phong kiệm, tùy sức mình mà trồng lần hồi, đừng ráng mà trồng một lần thật cho thiệt nhiều, rủi đất không chịu hay là chuyện gì rủi ro khác mà phải bỏ việc, thì lỗ to lắm. Ta cứ sách thường người nhà quê ta hay trồng mà trồng. Đừng bắt chước các sở vì họ có vốn to, lại làm kỹ lắm mà phí tổn cũng nhiều lắm, ta bì sao lại. Lại khuyên một điều, là đừng trồng sát bên nhà, vì gần nhà thì rậm rạp lắm, gió vô không được, thì sinh muỗi nhiều, mà muỗi nhiều thì rét nhiều: “sợ tiền bán càfê, không đủ tiền mua thuốc sốt rét”.

Có nhiều thứ càfê, thứ moka ta thường có, là thứ có tiếng trên xứ Kontum. Thứ chari là thứ lớn lá mà nhỏ hột, là thứ các sở hay trồng nhiều. Nghe nói nó chịu nắng, còn bò xè ít ăn, song lâu có trái, sáu bảy năm mới trông ăn, lại nghe nói hạ giá, ít người muốn mua. Có thứ khác kêu là Robusta (càfê trâu). Thứ này mạnh lắm, chỗ nắng nôi nó cũng chịu được, các cha ở Annam hay trồng. Trái lớn, lá to, cây lâu năm mới có trái và sống lâu lắm. Thứ này càng hạ giá hơn nữa.

Trong ba thứ càfê trên này, thì tưởng có thứ moka hay là abarica, ta quen kêu là càfê-sẻ, nên trồng hơn, vì mau ăn hơn, có giá hơn, lại mình trồng không bao nhiêu, dễ săm soi coi sóc hơn. Có kẻ phán đối rằng: “trồng chi mất công, bây giờ càfê rẻ không bằng nửa giá khi trước”. Tôi xin thưa lại, bây giờ vật gì vật gì cũng rẻ, mà biểu càfê cao giá sao được. Khi xưa một vuông lúa một đồng, bây giờ một đồng ba vuông. Khi xưa công nhựt một ngày năm cắc, bây giờ hai cắc không ai mướn. Mọi sự cũng  phải tùy thì tùy tiện mà chớ.

P.BAN

.. . . . . . . .

Imprimatur

die 29 mensis septembris 1935

+ Jannin Martial

 

 

 

 

Advertisements
%d bloggers like this: