Home > TinTức > GIỚI THIỆU VỀ ĐỨC KHÂM SỨ TÒA THÁNH

GIỚI THIỆU VỀ ĐỨC KHÂM SỨ TÒA THÁNH

05/09/2011

Tài liệu này được góp nhặt từ trên Internet

Nhân chuyến viếng thăm của Phái Đoàn Đại Diện Tòa Thánh đến Giáo phận Kontum, không phải là bài viết chính thức của Tòa Giám Mục. chúng tôi xin chuyển đến để quý vị tham khảo!

Kính!

Tòa Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tòa Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, hay còn gọi là Tòa Khâm sứ Vatican tại Việt Nam, là cơ quan đại diện của Tòa Thánh tạiViệt Nam, tồn tại trong giai đoạn từ 1925 đến 1975. Tòa Khâm sứ đảm nhận việc liên lạc giữa Tòa Thánh với Việt Nam trên lĩnh vực phụng tự là chủ yếu và một phần nhỏ lĩnh vực ngoại giao. Người đứng đầu Tòa Khâm sứ được gọi là Khâm sứ hay Đức Khâm Sứ, đôi khi cũng được gọi là Khâm sai Tòa thánh hay Khâm mạng Tòa thánh, thường có chức vụ từ giám mục trở lên.

Cần phân biệt giữa Khâm sứ Tòa Thánh và Sứ thần Tòa Thánh. Trong khi Khâm sứ chỉ đảm nhận việc liên lạc giữa Tòa Thánh với quốc gia bản địa ở lĩnh vực phụng tự thì Sứ Thần Tòa Thánh đảm nhận cả công tác ngoại giao (làm đại sứ) của Tòa Thánh ở quốc gia nào mà Tòa Thánh có mối quan hệ ngoại giao.

Lược sử hình thành

Năm 1922, Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài, thành viên phái đoàn vua Khải Định sang Pháp, đã sang Rôma yết kiến Giáo hoàng Piô XI để thỉnh cầu bổ nhiệm Khâm sứ tại Việt Nam và phong chức giám mục cho các linh mục bản xứ. Vì thế, trong cùng năm, Giáo hoàng Piô XI đã cử Giám mục Giáo phận Thiên TânTrung Hoa Henri Lécroart, một giáo sĩ Dòng Tên, làm Thanh tra Tông tòa (tiếng Pháp: Visiteur Apostolique) đi quan sát tình hình các giáo phận ở Đông Dương, đặc biệt về cách tổ chức các chủng viện và chương trình học vấn. Trong cuộc họp tại Phát Diệm với 11 giám mục giáo phận từ 4 đến 9 tháng 2 năm 1923 và tại Sài Gòn với 7 giám mục giáo phận ngày 20 tháng 6 năm 1923, các Đại diện Tông tòa Đông Dương đã đề nghị Thánh Bộ Truyền giáo đổi tên các giáo phận theo tên các thành phố có đặt Tòa Giám mục.

Tòa Khâm sứ Huế

Ngày 25 tháng 5 năm 1925, Giáo hoàng Piô XI đã cho lập Tòa Khâm sứ Đông Dương và Thái Lan, và cử Giám mục Constantino Ayuti (1876-1928) làm Khâm sứ Tòa Thánh (tiếng Pháp: Délégué Apostolique) tại Đông Dương, chính yếu là tại Việt Nam. Ban đầu, Khâm sứ Ayuti đặt văn phòng tạm tại Hà Nội. Nhưng vào lúc bấy giờ, Hà Nội mặc dù giữ vị trí quan trọng nhưng không phải là kinh đô Việt Nam, vì vậy, trụ sở Tòa Khâm sứ ở Đông Dương đã được xây cất mới, gần Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam, Huế, vì nơi đây lúc bấy giờ Huế là kinh đô của Việt Nam. Ông qua đời khi đang tại nhiệm, trước khi Trụ sở Tòa Khâm Sứ tại Huế được khánh thành ngày 1 tháng 5 năm 1928.

Liên tục trong 25 năm sau đó, các Khâm sứ kế vị là Giám mục Columban Dreyer (1928-1937) và Giám mục Antonin Drapier (1937-1950) đều đặt Toà Khâm sứ tại Huế.

Tòa Khâm sứ Hà Nội

Ảnh tòa nhà 42 Nhà Chung, nơi từng được sử dụng làm trụ sở Tòa Khâm sứ tại Hà Nội.

Năm 1945, Việt Nam tuyên bố độc lập. Từ đó, Huế mất đi vị trí kinh đô của Việt Nam và Hà Nội trở thành thủ phủ của Việt Nam, Lào và Campuchia. Năm 1950, Giáo hoàng Piô XII đã bổ nhiệm Giám mục John Dooley, người Ireland, làm Khâm sứ tại Đông Dương và ngày 18 tháng 10 năm 1951, Khâm sứ Dooley đã quyết định dời trụ sở Toà Khâm sứ ra Hà Nội và đặt cạnh Tòa Giám Mục Hà Nội.

Sau Hiệp định Genève 1954, Khâm sứ Dooley vẫn tiếp tục giữ cương vị đại diện chính thức của Tòa Thánh tại Hà Nội đến tận năm 1959. Sau đó thì Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trục xuất cùng với các giáo sĩ nước ngoài và tịch thu cơ sở Tòa Khâm sứ Hà Nội. Khâm sứ Dooley chấm dứt nhiệm vụ ngày 15 tháng 9 năm 1959.

Tòa Khâm sứ Sài Gòn

Ở Miền Bắc Việt Nam, do hoàn cảnh bị cô lập nên Khâm sứ Dooley không thể liên lạc được với các quốc gia thuộc quyền khác, nên ngày 15 tháng 2 năm 1956, Tòa Thánh cử Giám mục Giuseppe Caprio làm Thanh tra Tông tòa tại Sài Gòn để liên lạc với các giáo phận ở Miền Nam Việt NamLào và Campuchia. Ngày 13 tháng 3 năm 1957, vị Thanh Tra Tông tòa ở Sài Gòn được nâng lên hàng Đại lý Khâm sứ (tiếng Pháp: Régent Apostolique).

Năm 1959, khi Khâm sứ Dooley rời Hà Nội, Tòa Thánh liền thiết lập Tòa Khâm sứ Sài Gòn với vị Khâm sứ mới là Giám mục Mario Brini. Ông là người có đóng góp lớn trong việc Tòa Thánh quyết định thiết lập “Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam” vào ngày 24 tháng 11 năm 1960. Ngày 14 tháng 10 năm 1961, ông được tấn phong Tổng Giám mục hiệu tòa Alziza. Ngày 14 tháng 10 năm 1961, ông được bổ nhiệm làm Sứ thần Tòa Thánh (tiếng Pháp: Nonce Apostolique) tại Ai Cập.

Ngày 13 tháng 10 năm 1962, Giáo hoàng Gioan XXIII đã bổ nhiệm Giám mục Salvatore Asta làm Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương. Ông rời Việt Nam để nhận nhiệm vụ Sứ thần Tòa Thánh tại Iran năm 1964.

Ngày 17 tháng 6 năm 1964, Giáo hoàng Phaolô VI đã cho đổi Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương thành Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và bổ nhiệm Giám mục Angelo Palmas vào chức vụ Khâm sứ Tòa Thánh tại Sài Gòn. Ông rời Việt Nam ngày 19 tháng 4 năm 1969 để nhận chức Sứ thần Tòa Thánh tại Colombia.

Vị Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam cuối cùng cho đến thời điểm hiện tại là Giám mục Henri Lemaitre. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã yêu cầu ông rời khỏi Việt Nam, cắt đứt mối liên hệ với Tòa Thánh. Ngày 19 tháng 12 năm 1975, ông rời Việt Nam và nhận chức Sứ thần Tòa Thánh tại Uganda. Hiện nay, Việt Nam vẫn không có mối liên hệ nào với Tòa Thánh trên lĩnh vực ngoại giao.

Danh sách các vị đại diện Tòa Thánh Vatican tại Việt Nam

Tên

Thời gian đại diện

Chức vụ

Ghi chú

Henri Lecroat, S.J.

19221923

Giám mục Giáo phận Thiên TânTrung Hoa

Thanh tra Tông tòa

Constantin Ayuti

1925-1928

Tổng Giám mục hiệu tòa Phasis

Khâm sứ Tòa Thánh đầu tiên tại Đông Dương

Victor Colombanus Dreyer, O.F.M

1928-1936

Tổng Giám mục hiệu tòa Adulis

Nghỉ hưu ngày 19 tháng 11 năm 1936

Antonin-Fernand Drapier, O.P.

1937-1950

Tổng Giám mục hiệu tòa Neocaesarea in Ponto

Nghỉ hưu ngày 18 tháng 10 năm 1950

John Dooley, S.S.C.M.E.

1950-1959

Tổng Giám mục hiệu tòa Macra.

Bị trục xuất khỏi Bắc Việt Nam ngày 15 tháng 09 năm 1959

Giuseppe Caprio

1956-1959

Tổng Giám mục hiệu tòa Apollonia (1961).

Thanh Tra Tông tòa (1956), Đại lý Khâm sứ (1957)

Mario Brini

1959-1961

Tổng Giám mục hiệu tòa Alziza (1961)

Được bổ nhiệm làm Sứ thần Tòa Thánh tại Ai Cập ngày 14 tháng 10 năm 1961

Salvatore Asta

1962-1964

Tổng Giám mục hiệu tòa Aureliopolis in Lydia

Được bổ nhiệm làm Sứ thần Tòa Thánh tại Iran năm 1964.

Angelo Palmas

1964-1969

Tổng Giám mục hiệu tòa Vibiana

Được bổ nhiệm làm Sứ thần Tòa Thánh tại Colombia ngày 19 tháng 04 năm 1969.

Henri Lemaitre

1969-1975

Tổng Giám mục hiệu tòa Tongres

Khâm sứ Tòa Thánh cuối cùng tại Việt Nam cho đến hiện nay. Bị chính phủ Cộng sản trục xuất khỏi Việt Nam.

Quan hệ Tòa Thánh – Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Quan hệ ngoại giao Tòa Thánh – Việt Nam)

Quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Việt Nam trong lịch sử chưa bao giờ được thiết lập chính thức mặc dù Việt Nam là một quốc gia có số lượng giáo dân Công giáo đứng thứ hai châu Á, sau Philippines[1]. Tuy nhiên, những năm gần đây, hai bên đã cử những đại diện ngoại giao đến viếng thăm lẫn nhau. Lần gần đây nhất, vào Tháng hai năm 2009, phái đoàn của Tòa Thánh do Thứ trưởng ngoại giao – Đức ông Pietro Parolin dẫn đầu – đã đến thăm và làm việc tại Hà Nội, cả hai bên đã quyết định thành lập các “Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Vatican” để thảo luận vấn đề về quan hệ ngoại giao[2].

Nền tảng ban đầu

Năm 1925, một tòa Khâm sứ Tòa Thánh[3] được thiết lập, đại điện cho Tòa Thánh ở khu vực Đông Dương (Việt NamLào vàCampuchia), có trụ sở đặt tại Huế, đến năm 1951 thì dời ra Hà Nội, tức Tòa khâm sứ Hà Nội.

Bị từ chối

Năm 1957, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trục xuất Khâm sứ và các nhân viên ra khỏi lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, Tòa Thánh quyết định lập Thanh tra Tông tòa ở Sài Gòn trong năm ấy. Không lâu sau, Thanh tra Tông Tòa Sài Gòn được nâng lên thành Đại lý Khâm sứ (Régent Apostolique) và đến năm 1959 được nâng lên thành Tòa Khâm sứ Sài Gòn, giữ mối liên lạc cho Tòa Thánh ở Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Năm 1964, trách nhiệm liên hệ giữa Tòa Thánh với Lào được chuyển giao cho Tòa Khâm sứBangkok còn tại Sài Gòn đảm nhận cho lãnh thổ Nam Việt Nam và Campuchia.

Sau năm 1975, khâm sứ và nhân viên Tòa Khâm sứ Sài Gòn cũng buộc phải rời khỏi Việt Nam.

Ngọn lửa nhen nhóm

Quan hệ Tòa Thánh và chính quyền Việt Nam bắt đầu được nối lại bằng những cuộc tiếp xúc trực tiếp từ năm 1990, sau khi Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa. Năm 1994, Campuchia và Tòa Thánh thiết lập quan hệ ngoại giao thì vị Sứ thần tại Campuchia vẫn đảm nhận liên lạc với Việt Nam một cách không chính thức.

Đầu năm 2007Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã viếng thăm Vatican, hội kiến Giáo hoàng Biển Đức XVI và Thủ tướng Vatican, Hồng y Tarcisio Bertone[4].

Năm 2009, trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Công giáo UCA sau Cuộc viếng thăm Ad LiminaHồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn (Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, cuộc đàm phán thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Việt Nam hiện nằm ở phía chính quyền Việt Nam, và “Tòa Thánh đã sẵn sàng để thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam trong một thời gian dài. Những vấn đề then chốt hiện nay nằm ở chính quyền Việt Nam”[5].

Ngày 11 tháng 12 năm 2009Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã có cuộc gặp với Giáo hoàng Biển Đức XVI, tại Vatican[6]. Đây là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Việt Nam đến Vatican hội kiến giáo hoàng, kể từ sau năm 1975.

Phiên họp vòng hai của Nhóm Công tác Hỗn hợp Việt Nam – Vatican đã diễn ra trong hai ngày 23 và 24 tháng 6 năm 2010 tại Vatican để tiếp nối các công việc của phiên họp vòng một đã diễn ra ngày 17 tháng 2 năm 2009 tại Hà Nội. Đồng chủ tọa các vòng họp là Đức ông Ettore Balestreto, Thứ trưởng Thánh Bộ Quan hệ với các quốc gia của Tòa Thánh và ông Nguyễn Quốc Cường – Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam. Cuộc họp kết thúc bằng một thỏa thuận rằng, Vatican sẽ có một đại diện không thường trú của họ đến Việt Nam do Giáo hoàng bổ nhiệm[7]. Ngày 13 tháng 1 2011, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Leopoldo Girelli – Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore, Malaysia, Brunei kiêm chức Đặc phái viên không thường trú cho Tòa Thánh tại Việt Nam.

Ngày 8 tháng 1 năm 2011, Hồng y Ivan Dias, Bộ trưởng Bộ Truyền giáo Tòa thánh Vatican với vai trò Đặc sứ của Giáo hoàng sang dự lễ bế mạc Năm Thánh 2010 tại La Vang và đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp.

Phái viên của Tòa Thánh tại Việt Nam

 

TT↓

Phái viên↓

Ngày được bổ nhiệm↓

Ngày hết nhiệm↓

Người bổ nhiệm↓

Chức danh↓

1

Henry Lécroart, SJ

1922

1925

Giáo hoàng Piô XI

Đại diện Tòa Thánh tại Tcheli (Trung Quốc)

Thanh tra Tòa Thánh tại Đông Dương

2

Constantin Ayuti

25/051925

1928

Giáo hoàng Piô XI

Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương

Tòa Khâm sứ Huế

3

Victor Colombanus Dreyer, OFM

24/111928

19/11/1936

Giáo hoàng Piô XI

Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương

Tòa Khâm sứ Huế

4

Antonin Fernand Drapier, OP

19/11/936

18/10/1950

Giáo hoàng Piô XI

Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương

Tòa Khâm sứ Huế

5

John Dooley, SSCME

18/10/1951

15/09/1959

Giáo hoàng Piô XII

Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương

Tòa Khâm sứ Hà Nội

6

Giuseppe Caprio

15/02/1956

Giáo hoàng Piô XII

Thanh tra Tông Tòa tại Sài Gòn

Đại lý Khâm sứ (từ 1957)

7

Mario Brini

1959

14/10/1961

Giáo hoàng Gioan XXIII

Khâm sứ Tòa Thánh

Tòa Khâm sứ Sài Gòn

8

Salvatore Asta

13/10/1962

1964

Giáo hoàng Gioan XXIII

Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương

Tòa Khâm sứ Sài Gòn

9

Angelo Palmas

17/06/1964

19/04/1969

Giáo hoàng Gioan XXIII

Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam

Tòa Khâm sứ Sài Gòn

10

Henri Lemaitre

05/06/1975

Giáo hoàng Phaolô VI

Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và Campuchia

Tòa Khâm sứ Sài Gòn

11

Francesco De Nittis

Thường vụ Khâm sứ (1962, 1963, 1964)

12

Leopoldo Girelli

13/01/2011

Giáo hoàng Biển Đức XVI

Đại diện không trường trú của Tòa Thánh

 

 

 

Đức Thánh Cha bổ nhiệm Đại diện không thường trú đầu tiên tại Việt Nam


VATICAN. Hôm 13-1-2011, ĐTC Biển Đức 16 đã bổ nhiệm Đức TGM Leopoldo Girelli làm Đại diện Tòa Thánh không thường trú đầu tiên tại Việt Nam.

Nguyên văn thông báo của Phòng Báo chí Tòa Thánh viết:

”ĐTC bổ nhiệm Đức Cha Leopoldo Girelli, TGM hiệu tòa Capri, làm Sứ Thần Tòa Thánh tại Singapore, kiêm Khâm Sứ Tòa Thánh tại Malaysia và Brunei, và làm Đại Diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam. Cho đến nay Đức TGM Girelli là Sứ thần Tòa Thánh tại Indonesia”.

Đức TGM Girelli năm nay 58 tuổi, sinh ngày 13-3-1953 tại làng Predore, thuộc giáo phận Bergamo, bắc Italia, thụ phong linh mục năm 1978, theo học tại trường ngoại giao Tòa Thánh từ 1984 đến 1987. Sau khi ra trường, cha Girelli lần lượt phục vụ tại các Tòa Sứ Thần Tòa Thánh tại Camerun (1987-1991), New Zealand (1991-1993), rồi được gọi về Bộ ngoại giao Tòa Thánh để phục vụ trong 8 năm, từ 1993 đến 2001, trước khi được gửi sang Tòa Sứ Thần tại Hoa Kỳ (2001-2006). Sau 5 năm tại đây, ngài được bổ nhiệm làm TGM Sứ Thần Tòa Thánh tại Indonesia và Đông Timor, và thụ phong GM ngày 17-6 cùng năm 2006 do ĐHY Angelo Sodano, Quốc vụ khanh Tòa Thánh chủ phong.

Cho đến nay, vị Sứ Thần Tòa Thánh tại Thái Lan kiêm nhiệm chức vụ Sứ Thần Tòa Thánh tại Singapore, kiêm Khâm Sứ Tòa Thánh tại Malaysia và Brunei. Nay Tòa Thánh tách rời 2 nhiệm vụ này để ủy cho vị Sứ Thần riêng, kiêm nhiệm chức vụ Đại diện không thường trú tại Việt Nam.

Tuyên bố hôm 10-1 vừa qua trước ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ĐTC nói: ”Tôi muốn hài lòng ghi nhận rằng chính quyền Việt Nam đã chấp nhận để tôi chỉ định một Đại diện, qua các cuộc viếng thăm cộng đồng Công giáo quý mến tại nước này, vị ấy sẽ bày tỏ sự quan tâm ân cần của Người Kế Vị Thánh Phêrô”. (SD 13-1-2011)

………………….

TIỂU SỬ

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICT XVI

Tên thật là Joseph Ratzinger, sinh ở Marktl am Inn (trên sông Inn), nước Đức, ngày 16 tháng Tư 1927, Thứ Bẩy Tuần Thánh, và là người đầu tiên được rửa tội trong Nước Phục Sinh vừa được làm phép trong Đêm Phục Sinh năm đó. Cha của ngài, một cảnh sát viên, xuất xứ từ một gia đình nông dân ở Hạ Baveria, và thường xuyên bị thuyên chuyển. Vào năm 1929, gia đình ngài di chuyển đến Tittmoning, một thành phố nhỏ ở bên sông Salzach, cạnh biên giới nước Áo.

Vào năm 1932 vì cha ngài lớn tiếng chỉ trích Đức Quốc Xã nên gia đình phải di cư đến Auschau am Inn, dưới rặng núi Alps. Cha ngài về hưu năm 1937, và cả gia đình di chuyển đến Hufschlag, ngoại vi của Traunstein. Ở đây Joseph bắt đầu học cổ ngữ ở trường trung học địa phương. Vào năm 1939, ngài vào tiểu chủng viện ở Traunstein, bước đầu tiên trong chức linh mục.

Thế Chiến II bùng nổ khiến việc học của Joseph bị gián đoạn, cho đến năm 1945, khi ngài tái gia nhập chủng viện với người em là Georg. Năm 1947, ngài vào trường Herzogliches Georgianum, một trường thần học có liên hệ với Đại Học Munich. Sau cùng, vào ngày 19 tháng Sáu 1951, cả hai anh em được phong linh mục bởi Đức Hồng Y Faulhaber, ở Vương Cung Thánh Đường Freising, vào ngày lễ Thánh Phêrô và Phaolô, ngày 29 tháng 6 năm 1951. Năm 1953 Ngài đậu Tiến Sĩ Thần Học, với luận án mang nhan đề ” Giáo dân và Giáo hội trong học thuyết Augustine về Giáo Hội.”. Sau đó được mời dậy Thần Học Tín Lý tại trường cao đẳng Thần Học Freising. Từ năm 1959 đến 1969 tại Đại Học Bonn. Từ năm 1963 đến 1966 tại Đại Học Munster. Từ năm 1966 đến 1969 tại Đại Học Tubinga, ngài giữ chức phó chủ tịch của phân khoa thần học tín lý tại Đại Học Tubingen. Năm 1969, Ngài chính thức trở thành Giáo sư Thần Học Tín Lý của Đại học Regensburg, và cũng tại đây Ngài được chọn là khoa trưởng và phó viện trưởng. Từ 1962-1965, ngài có mặt trong bốn khóa họp của Công Đồng Vatican II với tư cách một peritus, trưởng cố vấn thần học cho Đức Hồng Y Josef Frings của Koln (Cologne), nước Đức, khi ngài tròn 35 tuổi. Ngài cũng là một thành viên của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế của Tòa Thánh từ 1969 đến 1980.

Advertisements
%d bloggers like this: