Home > Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > ĐỨC CHA MARTIAL PIERRE MARIE JANNIN

ĐỨC CHA MARTIAL PIERRE MARIE JANNIN

21/07/2012

Ban truyền thông Giáo phận Kontum xin đăng lên trang BLOG của giáo phận bản dịch về

“TẬP TIN : JANNIN.

Được phép đăng tải bởi tờ Anonyme thứ tư 31/12/2008 lúc 12 giờ 30.

Họ : Martial – Số: 1924“.

Tài liệu này tuy ngắn gọn, nhưng phần ghi lại “Những tài liệu tham khảo tiểu sử”  và  “Cuộc đời Đức Cha JANNIN Martial (1867-1940)” rất hữu ích để nói lên ngài có công chẳng những đóng góp trong công cuộc truyền giáo, xây dựng Địa phận Tông Tòa tiên khởi cách vững chắc trên vùng Tây Nguyên, mà còn sáng giá trong nhiều  lĩnh vực khác, như ngữ học, văn hóa,  y tế … Chúng tôi không dám có tham vọng  trình bày một số  bản văn đang lưu trữ  trong thư viện của Hội Thừa Sai Paris để thấy được tầm nhìn xa của Ngài, mà ngày nay được coi như là khám phá của thời đại, chẳng hạn sách thuốc  dùng bằng thảo dược “HLABAR PƠGANG”, NHÀ IN KONTUM (1932)  được coi như ngài là tác giả. Đề bảo vệ môi trường, Ngài dẫn nước từ nguồn sông Đak Bla về thị xã ,vận hành máy phát điện và đưa nước xử dụng lên tầng ba của tòa nhà chủng viện thừa sai Kontum.

XIN KÍNH MỜI

GPKONTUM(21.07.2012) KONTUM

TẬP TIN  : JANNIN

Được phép đăng tải bởi tờ Anonyme thứ tư 31/12/2008 lúc 12 giờ 30

Họ               : Martial                – Số: 1924

 

ĐỨC CHA MARTIAL PIERRE MARIE JANNIN

 

(1924) Martial Pierre Marie Jannin sinh ngày 7 tháng 1 năm 1867 tại Besançon, giáo xứ thánh Phêrô, giáo phận Besançon, tỉnh Doubs. Giáo dân được nhập vào Chủng viện Thừa sai truyền giáo ngày 8 tháng 10 năm 1886, chịu phép cắt tóc ngày 24 tháng 9 năm 1887, ngài đã nhận chức nhỏ ngày 22 tháng 9 năm 1888; phó trợ tế ngày 21 tháng 11 năm 1889, phó tế ngày 1 tháng 3 năm 1890, ngài được thụ phong Linh mục ngày 22 tháng 9 năm 1890; ngài ra đi đến Đông Đàng Trong ngày 26 tháng 11 năm 1890.

Được sai đến những người Bahnar trên vùng Tây Nguyên Việt Nam kế thừa và noi gương những người tiên phong đầu tiên trong suốt 50 năm, ngài đã làm việc bên những cư dân miền núi, đã tổ chức Hội thừa sai truyền giáo Kontum để thành lập ở nơi đây một giáo phận Tông tòa mới mà sẽ làm Giám mục tiên khởi của giáo phận này. Vào năm 1893 “nhờ sự phù trì của Đức Trinh Nữ và thánh Biển Đức” nhận được sự trở lại đạo của làng Kon Mơney, bị nhiễm bệnh đậu mùa. Ngài đã cho chuẩn bị ở đó một ngôi nhà thờ tạm. Vào năm 1895 các làng kế cận cũng trở lại đạo. Vậy là ngài đã có 10 làng để cai quản. Nỗi băn khoăn đầu tiên của ngài là lo việc dạy dỗ và huấn luyện các dự tòng. Lúc đó số giáo dân đã đạt tới con số khoảng chừng 1.200 người. Vào năm 1896, ngài đã cố gắng xây cất một nhà nguyện ở mỗi nhiệm sở và biến Kon Mơney thành một trung tâm của vùng có đạo mẫu, có khả năng đón tiếp và tập họp các giáo dân trong địa hạt.

Vào năm 1898, ngài đã thuật lại với đầy đủ chi tiết sự tiến triển lớn lao của việc truyền giáo. Với hoạt động tông đồ như Cha M.M Guerlach, Cha Irigoyen và Cha Jarey, các làng Dak-Io, Ha mong, Kutu, Dak ao-ting và Dak- Kodun đã có đến 1.500 người  dự tòng, ngài đã hiến dâng Hội truyền giáo Bun-nin cho Đức Mẹ Chiến Thắng của chúng ta. Ngài cũng đã lưu ý đến một cuộc nhập cư quan trọng của những người Việt từ Quảng Nam ao ước trở thành Kitô hữu. Vào năm 1900, ở Kon xong-loh với Cha Bober, ngài đã rửa tội cho 118 trẻ em trên đỉnh núi Kon-ngah trống trãi (độ cao 1.500 mét). Ngài dùng một cây lớn mà ngài đã biến thành cây thánh giá uy nghiêm mời gọi tất cả một vùng đặt dưới sự bảo vệ của thánh giá.

Cha Jannin đã cảm nhận được sự cần thiết phải đào tạo giới trẻ Bahnar nhằm phát triển và đặt cơ sở cho công cuộc truyền giáo. Đương đầu với những khó khăn đủ loại bằng một tinh thần  kiên quyết, năm 1905 ngài đã thành lập, dạy dỗ và điều hành trường Cuenot tại Kontum  nhằm đào tạo các chú Yaophu. Cha Alberty đã giúp đỡ ngài trong nhiệm vụ này. Vào năm 1909 trường này có 100 học sinh nổi bật bởi lòng đạo đức, sự chăm chỉ và các tiến bộ tri thức và luân lý của họ. Vào năm 1914 trường Cuenot càng được phát triển hơn dưới sự đảm nhiệm hiệu quả của Cha Jannin, vị sáng lập, được sự giúp đỡ của Cha Bober và của hai chú Yaophu.

Trong khi chờ đợi nhà in của Hội thừa sai Kontum, từ năm 1909, Cha Jannin đã dịch sang tiếng Bahnar và đã in thành 70 bản Cựu Ước để cho các học sinh của ngài sử dụng. Đặc biệt cho chúng, ngài đã biên soạn một quyển cẩm nang dược phẩm và ngài đã cung cấp các loại thuốc dự phòng thích hợp với các chứng bệnh và các tai nạn thường xảy ra ở các miền này. Ngài cũng đã biên soạn cho các học sinh của ngài một quyển sách cơ bản về vũ trụ học. Vào năm 1923 ông Baudoin, viên toàn quyền và ông Pasquier, viên công sứ cấp cao đã đến thăm trường Cuenot…Vào năm 1925 Cha Jannin đã kết thúc việc in ấn quyển sách lớn “Hlabar Pơdok” thứ 8 loại sách toát yếu thần học bao gồm cả phong tục tập quán Bahnar. Nhìn bề ngoài không có gì sáng giá, nhưng ngài có một trí năng rất là tinh tế, Cha Jannin quả là một người làm việc vặt trong nhà rất giỏi, tháo vác, kiên nhẫn, bền chí. Thật vậy ngài đã sáng chế bằng các phương tiện tại chỗ một cỗ máy dùng sức nước để giã gạo và còn biết bao cải tiến được sử dụng cho chiếc xe hơi của ngài nữa! Sau này thì ngài đã trở thành kiến trúc sư thầu khoán xây cất Chủng viện của ngài: một ngôi nhà sàn lớn hai tầng có mặt tiền dài 100 mét. Bàn thờ của nhà nguyện chạm khắc bằng gỗ hoàn toàn được ngài thiết kế.

Vào năm 1925 sau khi Cha Kemlin qua đời, Cha Jannin được bổ nhiệm làm bề trên tạm quyền của tỉnh Kontum và thay thế vị Tổng đại diện. Vào năm 1926 ngài đã đi cùng với các Yao phu xuất sắc nhất của ngài viếng thăm giáo luật vùng Kon Mah. Vào năm 1928, ngài cũng đã đi thăm nhiều địa sở khác như vậy. Vào năm 1928, ngài đã gặt hái được con số 506 dự tòng. Trong số 110 học sinh của trường Cuenot ra trường thành các chú Yao phu 6 người được nhận vào tiểu Chủng viện Làng Sông. Vào năm 1930, miền truyền giáo Kontum gồm có 27 Linh mục Pháp và Việt Nam, 18.700 giáo dân, 121 nhà thờ và nhà nguyện, 500 tân tòng, hàng trăm dự tòng, nhiều giáo xứ Kinh, một trường đào tạo Yao phu đang phát triển, các Chủng sinh ở Làng Sông và ở Pénang, một Hội dòng nữ tu, một xưởng in nhỏ, khoảng 2.000 người dân tộc thiểu số được xóa mù chữ. Miền truyền giáo Kontum đã có thể được nâng lên hàng Giáo phận Tông tòa. Tòa thánh Rôma đã ra quyết định nâng cấp này vào ngày18 tháng 1 năm 1932. Ngày 10 tháng 1 năm 1933 Cha Jannin được bổ nhiệm làm Giám mục Tông tòa tiên khởi của Kontum. Ngài được tấn phong ngày 23 tháng 6 năm 1933 bởi Đức Giám Mục Dreyer, khâm sứ Tòa thánh. Hoàng đế An nam đã ban tặng cho ngài huy chương vàng hạng nhất. Bản báo cáo đầu tiên của Giáo phận mới này đưa ra con số 20.490 giáo dân và 584 người lớn được rửa tội vào năm 1933.

Vào năm 1932 ba Linh mục Bahnar đầu tiên thụ phong. Vào năm 1935, Đức Cha Jannin đã mở một ngôi trường như là Tiểu chủng viện của Giáo phận tại Kontum dành cho các trẻ em và những thanh niên của tất cả các miền của Đông Dương ao ước được dâng mình để đi truyền giáo cho các dân tộc miền núi. Vào năm 1936, ông Graffeuil, viên công sứ cấp cao đã viếng thăm miền truyền giáo và trường Cuenot.

Đức Cha Jannin quan tâm để nắm bắt tình hình của những việc đã xảy ra trong các giáo phận khác bằng cách tham dự những cuộc gặp gỡ và các nghi lễ tôn giáo khác nhau. Ngài đã tổ chức Giáo phận của riêng ngài theo cả hai phương diện: trần thế và thiêng liêng, xây cất, thăm viếng các cộng đoàn, các giáo xứ, ban phép thêm sức, làm phép những nhà thờ mới: như ở Dak Kang năm 1936, ở Kon Trang năm 1937, ở Dak Cho năm 1939. Ngài đã mở những điểm truyền giáo mới như Ban Mê Thuộc vào năm 1937 mà ngài đã giao cho một Linh mục người Việt. Cũng năm này ngài đã tiếp đón Đức Cha Drapier, Đức Khâm sứ đến thăm đã được mục kích về công việc được thực hiện trong miền truyền giáo này.

Vào năm 1940, miền truyền giáo Kontum có 25.853 giáo dân và đã rửa tội được 686 người lớn và 1.017 trẻ em ngoại giáo. Có 161 nhà thờ và nhà nguyện, 14 Linh mục thừa sai Paris và 14 Linh mục bản xứ, 204 Yao phu và giáo lý viên, 95 Chủng sinh và 25 nữ tu.

Ngày 16 tháng 7 năm 1940, Đức Cha Jannin qua đời ở tuổi 74 và ở tuổi 50 của cuộc đời truyền giáo của ngài. Ngài là một vị Tông đồ niềm nở đối với mọi người, siêu nhiên cao cả và nổi tiếng bởi lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria.

Những tài liệu tham khảo tiểu sử

AME 1898 trang 77. 1901 trang 257. 1902 trang 293.295.298.1903 trang196. 1904 trang 228,230,232,236,227. 1910trang 275. 1912 trang 148.150. 1929 trang 121.1222. 1933trang 21.22.97.159.160.212-219. Ảnh trang 231. 1934 trang 41. 1935 trang 182. 1936 trang 137.173. 1937 ttrang 60.139.234. Ảnh trang 34.61. 1938 trang 58.137.187. 1939 trang 72.75.185. 1940 trang 83. Các bài báo 1923 trang 58.63. 1926-27 trang 371. 1933 trang 64.217. 1940 trang 39.79. CR 1890 trang 220. 1893 trang 194. 1895 trang 209-211. 1896 trang 205.206.207. 1898 trang 159.339.340. 1900 trang 162.163. 1901 trang 155. 1909 trang 178. 1912 trang 207. 1914 trang 92. 1917 trang 96. 1921 trang 148. 1927 trang 107. 1928 trang 112.113. 1929 trang 148.227. 1930 trang 175. 1933 trang 184-189. 1934 trang 171-176. 1935 trang 167-172. 1936 trang 249. 1937 trang 167-173. 1938 trang 165-170. 1939 trang 140.150-155. 1940 trang 87.118.148. 1947 trang 78.240.241.242. 1948 trang 88. 1951 trang 142. 1952 trang 47.155.45. 1958 trang 51. 1969 trang 63. BME 1923 trang  519. 1924 trang 55. 1925 trang 54.173.371. 1931 trang 72. 1933 trang 239. 303.307.380.459.624.51. 1969 trang 63. BEM1923 trang 519. 1924 trang 55. 1925 trang 54.173.371. 1931trang 72. 1933 trang 239.303.307.380.459.624.631. 1934 trang 875.879.882. Ảnh trang 255. 1935 trang 63.327. 520.627.928.672. Ảnh trang 57.527.672.  trang 394.455. 1937 trang 142.448.524.532.533. Ảnh trang 461. 1938 trang 270. 1939 trang 802.804. 1940 trang 136.0283.288.357.571.599. Ảnh trang 258.356. 1941 trang 112-113 (mỹ thuật) 354. 1949 trang 261-719 trang 261.719. 1950 ttrang 400. 1951 trang 699. 1952 trang 692. 1953 trang 488. 1956 trang 398.834.835. 1958 trang 299.300. Ảnh trang 348. R.MEP. 1962 số 124 trang 12. EPI 1870 trang 467. EC1 số 269.426. NS 1920 trang 177. 1943 trang 192. 1944 trang 239. Tháng 11 năm 1993.

 

Cuộc đời  Đức Cha JANNIN Martial (1867-1940)

 

– Hlabar abo Đức Cha Jannin- Kontum: Hội thừa sai 1908-(12) trang: 21;21 cm – sách học vần Bahnar in thành nhiều bản. Đợt xuất bản khác vào năm 1910.

– Sách dạy kinh dịch từ tiếng Việt  sang Bahnar: dựa theo “sách thiên” Đức Cha Jannin- Kontum: trường Kuenot, 1910-22trang.

– Sách dạy nói tiếng Việt/ Cha Phước viết- Kontum: Trường Kuenot 1915-16 trang; dày 21cm, những khái niệm đầu tiên của Tiếng Việt.

– Phép toán bằng tiếng Bahnar ( Cha Jannin)- Kontum: Trường Kuenot 1919 – 46 trang – dày 19cm. Các bài học về các phép tính bằng tiếng Bahnar.

– Người ta chế biến dầu thế nào? (Cha Jannin)- Kontum: trường Kuenot 192 – [4] trang 1 ill.

– Địa lý Đông dương thuộc Pháp/ Cha Jannin- Kontum Trường Kuénot 1922-  20 trang : các bản độ; dày 22cm.

– Sách học tiếng Pháp – Cha Jannin viết  [Cha Jannin] –  Kontum : Trương Kuénot, 1923-  21 trang dày 21 cm.

– Sách học vần Bahnar.

– Sách dạy nói tiếng Việt / Cha Jannin viết [cha Martial – [lớp 2 ư – Kontum : Trường Kuénot 1923-  28 trang, dày 22 cm.

– Những khái niệm cơ bản của tiếng việt. Còn đang soạn từ điển Pháp – Bahnar – Xêđang – Jarai… Chưa đóng thành sách / Martial Jannin – 1925? – 160 trang; dày khổ 16 x 25 cm, bìa bằng giấy AMEP 1924.

– Sách tương tự / Cha Jannin Hong Kong: Nhà in Nazareth; Kontum, Trường Kuénot 1931 – 16 trang; bìa giấy; dày 19 cm. Sách học vấn bahnar.

 – Truyện kể các việc đáng ghi nhớ Đức Cha Martial Jannin…..

Advertisements
%d bloggers like this: