Home > Sách Báo, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu, Tin Việt Nam, TinTức > Hội Thảo Khoa Học “Bình Định với Chữ Quốc Ngữ”

Hội Thảo Khoa Học “Bình Định với Chữ Quốc Ngữ”

20/01/2016

Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận xin gởi đến toàn thể gia đình Giáo phận

một số ý kiến nhận định về:

Hội Thảo Khoa Học “Bình Định với Chữ Quốc Ngữ”

"/

 

 

HỘI THẢO KHOA HỌC “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”,

(Ngày 12-13/01/2016)

Hội thảo khoa học “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ” ngày 12-13/01/2016 tại Tp. Qui Nhơn được đánh giá rất cao và sâu sắc, được các phương tiện truyền thông trong cũng như ngoài tỉnh Bình Định phổ biến rộng khắp.

Ban tổ chức cuộc hội thảo đã chuẩn bị chu đáo xét về nhiều phương diện: về chương trình làm việc ăn khớp, có khoa học; mời các nhà nghiên cứu đa ngành để tham dự như các nhà khoa học lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, nhà văn, nhà thơ…; san định các bài tham luận cho đúng qui cách (trên 80 bài tham luận) trong đó trong đó có gần 20 bài có liên quan đến Bình Định. Còn lại bàn chung về chữ quốc ngữ đến đầu thế kỉ XX.; tổ chức đi thực địa đến các nơi cần thiết như địa danh “Nước Mặn”,  “Làng Sông”… ; hội trường thảo luận (khách sạn Hải Âu, Tp Quy Nhơn) thoáng mát thích hợp cho hội nghị; các cán bộ chuyên ngành truyền thông đại chúng đông đảo… Nói chung, cuộc hội thảo này tập trung, được ông Phan Huy Lê đã đúc kết, đánh giá cao, và đưa ra những điều cần phải làm tiếp theo đề nghị của Hội Nghị.

Ở đây, trong khuôn khổ giới thiệu một số nhận định về cuộc Hội Thảo để đăng lên Trang Mạng Giáo Phận Kontum, trước tiên chúng tôi đề cập một vài nhận định đánh giá sau đây:

1- Lm Võ Đình Đệ có so sánh chữ  Quốc ngữ như 1 dòng sông có nguồn cội.

Trong phần giới thiệu bài tham luận của mình, linh mục Võ Đình Đệ đã so sánh chữ  Quốc ngữ với hình ảnh “như 1 dòng sông có nguồn cội” rất hay, và cụ thể nói lên cội nguồn đó là địa danh “Nước Mặn”, để rồi sau đó linh mục diễn giải ra “Nước Mặn” là cội nguồn của “chữ  Quốc ngữ” như thế nào?  

GS Phan Huy Lê bổ sung thêm sự ra đời của chữ Quốc ngữ qua hình ảnh “một dòng sông”, ông nói: “Tôi thích ý tưởng của linh mục Võ Đình Đệ. Ông coi sự ra đời của chữ Quốc ngữ như một dòng sông, và nguồn của dòng sông đó là Nước Mặn. Tôi chỉ bổ sung thêm dòng sông chữ Quốc ngữ do nhiều con suối tạo nên, trong đó Nước Mặn là 1 con suối,  Thanh Chiêm là 1 con suối, Hội An là 1 con suối”[1].

2-  Chúng tôi xin trích dẫn một số nhận định và đánh giá về Hội Thảo Khoa Học “Bình Định Với Chữ Quốc Ngữ” ngày 13/01/2016, qua các phương tiện truyền thông đại chúng của nhà nước và của một số người tham dự quan tâm sau đây :

+ Nguồn:  http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/283785/binh-dinh-voi-chu-quoc-ngu.html

Chuyên đề: Bình Định với chữ quốc ngữ

“Nhằm ghi dấu và bảo tồn những di sản lịch sử này cũng như phát triển vì sự nghiệp phát triển Tiếng Việt, UBND tỉnh Bình Định tổ chức hội thảo khoa học “Bình Định với chữ Quốc ngữ” ngày 12-13/1/2016 tại TP. Quy Nhơn với sự tham dự 150 đại biểu (…)”.

 “(…) Hội thảo khoa học “Bình Định với chữ Quốc ngữ” là một ấn tượng bất ngờ, một khẳng định hấp dẫn cho giới nghiên cứu và những ai quan tâm đến Tiếng Việt trong và ngoài nước”.[2]

 + Nguồn: http://skhcn.binhdinh.gov.vn/?p=7247

Chuyên đề: Hội thảo “Bình Định với chữ Quốc ngữ”

Xuất bản: 13.01.2016

Có đoạn:

“Chữ Quốc ngữ ra đời ở nước ta cách đây trên 400 năm, do các nhà truyền giáo phương Tây tạo nên từ tiếng La tinh. Qua quá trình truyền bá phổ biến, chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm khó học khó nhớ, và nay chữ Quốc ngữ trở thành loại chữ viết riêng cho Việt Nam ./.[3]

+ Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn

Chuyên đề: Nước Mặn – Bình Định: Vai trò quan trọng hình thành chữ Quốc ngữ.

“Trong tham luận “Vai trò các thừa sai Dòng Tên trong việc sáng tạo chữ Quốc ngữ tại Nước Mặn, Bình Định” trình bày tại Hội thảo, linh mục Võ Đình Đệ (TP Quy Nhơn) đã ví von chữ Quốc ngữ chúng ta đang sử dụng như dòng sông không ngừng chảy trong lòng dân tộc suốt gần 400 năm nay. Sau khi đưa ra nhiều tư liệu lịch sử, cùng sự nghiên cứu, phân tích đánh giá của mình, linh mục Đệ nhìn nhận: “Lúc bấy giờ Nước Mặn chẳng những là một trung tâm truyền giáo mà còn là nơi các thừa sai nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ trong giai đoạn mà linh mục Léopold Cadière, nhà nghiên cứu khoa học, sử học, ngôn ngữ học và tôn giáo dân tộc học gọi là “hình thái tiên chinh của chữ Quốc ngữ, một thứ chữ Quốc ngữ trước thời linh mục Đắc Lộ”. Ngoài ra, cư sở Nước Mặn cũng là “Trường Quốc Ngữ” đầu tiên được linh mục Buzomi vừa là người tổ chức, vừa là thầy dạy cho các thừa sai đến sau… cho thấy nguồn cội phát tích “dòng sông Quốc ngữ” chính là Nước Mặn”. [4].

+  “GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, phát biểu kết luận tại Hội thảo: “Tôi thích ý tưởng của linh mục Võ Đình Đệ. Ông coi sự ra đời của chữ Quốc ngữ như một dòng sông, và nguồn của dòng sông đó là Nước Mặn. Tôi chỉ bổ sung thêm dòng sông chữ Quốc ngữ do nhiều con suối tạo nên, trong đó Nước Mặn là 1 con suối,  Thanh Chiêm là 1 con suối, Hội An là 1 con suối.

Tôi nghĩ rằng không nên coi chữ Quốc ngữ là 1 sự kiện gắn với 1 con người, 1 địa điểm quá chật quá hẹp. Đây là hiện tượng văn hóa – xã hội có cả quá trình dài với sự tham gia của nhiều người. Vì vậy, đi tìm 1 người, 1 nơi khởi nguồn chữ Quốc ngữ là điều hết sức chủ quan. Phải nhìn rộng ra Bình Định trong vị trí của dinh Quảng Nam, trong vị trí của Đàng Trong thì  đây là một trong những nơi có thể là ra đời sớm nhất của chữ Quốc ngữ cùng với Hội An, Thanh Chiêm. Trong 3 trung tâm này thì Nước Mặn có quyền tự hào là nơi ra đời chữ Quốc ngữ sớm hơn. Bình Định trong đó có Nước Mặn giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu phôi thai nảy nở chữ Quốc ngữ. So với những nơi khác, Nước Mặn vẫn còn một số di tích cần được quan tâm gìn giữ, nghiên cứu thêm”.[5]

     + NGUỒN: http://nongnghiep.vn/hoi-thao-khoa-hoc-binh-dinh-voi-chu-quoc-ngu-post155313.html

 “Về tham dự cách khách quan, khoa học tiến trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ hội thảo có khoảng 180 đại biểu chuyên ngành. Đặc biệt trong đó có 20 giáo sư, phó giáo sư đang hoạt động trong lĩnh vực lịch sử và ngôn ngữ học. Hội thảo được tổ chức nhằm hướng đến mục đích khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá một; trong đó có vai trò quan trọng của đất và người Bình Định, nơi phôi thai, điểm khởi nguyên hình thành chữ Quốc ngữ trong giai đoạn đầu và phát triển, phổ biến chữ Quốc ngữ ở các giai đoạn tiếp theo. Sau khi thẩm định nội dung các tham luận, Ban tổ chức Hội thảo đã đánh giá hầu hết các tham luận đều đảm bảo chất lượng và vượt số lượng dự kiến ban đầu, đáp ứng mục đích yêu cầu của hội thảo đặt ra nhằm làm sáng tỏ những đóng góp của Bình Định trong giai đoạn đầu sáng tạo hình thành chữ Quốc ngữ (1618-1622), cũng như các giai đoạn tiếp theo phát triển truyền bá chữ Quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, những  bài viết về lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ đều có điểm chung xác định: Vùng đất quanh Cảng thị Nước Mặn thuộc xã Phước Quang (huyện Tuy Phước, Bình Định) chính là nơi phôi thai, khởi nguồn chữ Quốc ngữ…. “[6]

+ Nguồn: http://www.nhandan.com.vn

“Tại hội thảo, đã có 72 tham luận của các tác giả từ khắp nơi trên cả nước được trình bày. Trong đó, có 26 tham luận về “Quá trình hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ”, 22 tham luận về “Sự đóng góp của Bình Định vào tiến trình hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ”, 24 tham luận về “Chữ Quốc ngữ với sự phát triển nền văn hóa dân tộc”.

Sau khi thẩm định nội dung các tham luận, Ban tổ chức hội thảo đánh giá đã có nhiều tham luận bảo đảm chất lượng và đáp ứng mục đích yêu cầu của hội thảo, góp phần làm sáng tỏ những đóng góp của Bình Định trong giai đoạn đầu sáng tạo và hình thành chữ Quốc ngữ (1618 – 1622), cũng như các giai đoạn tiếp theo phát triển truyền bá chữ Quốc ngữ (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX).

Tại Hội thảo, nhiều nội dung đã được các nhà khoa học, chuyên gia, tác giả… bàn luận nhằm hướng đến mục đích khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học tiến trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ. Trong đó, có vai trò quan trọng của đất và người Bình Định, địa phương được cho là một trong những nơi phôi thai, điểm khởi nguyên hình thành chữ Quốc ngữ trong giai đoạn đầu và phát triển, phổ biến chữ Quốc ngữ ở các giai đoạn tiếp theo”.[7]

+ NGUỒN: http://m.cadn.com.vn/news/hoi-thao-quoc-gia-binh-dinh-voi-chu-quoc-ngu–143324-71

“(Cadn.com.vn) – Tại TP Quy Nhơn, UBND tỉnh Bình Định vừa phối hợp với Hội Sử học Việt Nam, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam tổ chức hội thảo quốc gia “Bình Định với chữ Quốc ngữ” với sự tham gia của gần 300 đại biểu là các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu hàng đầu ở trong nước, các trường đại học lớn ở các tỉnh, thành phố: Hà Nội, TPHCM, Cần Thơ, Đà Nẵng và Bình Định… Hội thảo hướng đến mục đích khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học tiến trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ, trong đó có vai trò quan trọng của đất và người Bình Định-nơi phôi thai, điểm khởi nguyên hình thành chữ Quốc ngữ trong giai đoạn đầu và phát triển, phổ biến chữ Quốc ngữ ở các giai đoạn tiếp theo”[8].

+ Nguồn: https://www.facebook.com/nguyen.t.thang.5099/posts/10205787198779271

Trang facebook của linh mục Nguyễn Trường Thăng nhận định và đề nghị độc đáo qua bài viết sau đây:

(Viết tại QUI NHƠN 14 THÁNG 01 NĂM 2016)

“TIẾNG NƯỚC TÔI, BỐN NGHÌN NĂM.

THÀNH CHỮ VIẾT QUỐC NGỮ VẠN ĐẠI.

LAN MAN DỊP HỘI THẢO CHỮ QUỐC NGỮ TẠI QUI NHƠN.

Ngày còn là cậu bé lớp đệ lục, trung học miền nam, nhạc phẩm Tình ca của nhạc sĩ Phạm Duy, nghe nói được sáng tác năm 1952, đã tác động mạnh đến tâm hồn, đến tình yêu quê hương, tổ quốc Việt Nam, qua tiếng hát Thái Thanh.

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi 

Mẹ hiền ru những câu xa vời 

À à ơi ! Tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui 

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi 

Tiếng nước tôi ! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi 

Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…”

Từ yêu tiếng mẹ đẻ, đến yêu đồng quê, ruộng vườn ; vươn đến tình yêu non sông gấm vóc; đến anh hùng liệt nữ; lịch sử đất Việt đau thương và hào hùng.

Hàng ngàn năm và cho đến thế kỷ 20, người Việt không có chữ viết riêng, phải phụ thuộc chữ viết phương Bắc, chữ Hán. Muốn thoát cũng không xong, vì muốn đọc một chữ nôm phải biết hai chữ Hán, một chữ để hiểu nghĩa, một chữ để phát âm. Vậy mà phát âm cũng đoán mò vì ngôn ngữ tiếng Việt trầm bổng như một bản nhạc, sai một li đi một dặm. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã cay đắng với hai dấu sắc, huyền; bảo mua CÁ lại bị chơi luôn một rổ CÀ.

Đầu thế kỷ 17, tiếng Việt, quốc ngữ, theo mẫu tự la tinh ra đời, tại 3 địa điểm Hội An, Nước Mặn, Dinh trấn Thanh Chiêm. Do cùng tắc biến, túng thì phải tính, khó thì ló cái khôn, các giáo sĩ Dòng Tên ban đầu ghi âm để học, nói tiếng Việt chứ có ý đồ sáng tác, sáng tạo gì đâu. Sang bên nước Lào, toàn chữ hình sâu, linh mục Antôn nghe “cọp chạy lẩy lẩy” thì ghi âm lại để nhớ “cám ơn lắm lắm”, chứ đâu có âm mưu, ấm méo gì làm hại văn hóa dân tộc Lào.

Vậy mà hàng trăm năm nay, qua đến thế kỷ 21 rồi, mà các ông này bị gán cho âm mưu này, thủ đoạn kia, tạo điều kiện cho thực dân xâm lược, phá hủy nền văn minh văn hóa đất Việt.

Đạo công giáo gần 300 năm bị loại ra khỏi vòng pháp luật, không được học hành, thi cử, vì “chánh đạo”, là Tống nho độc quyền, đã nhờ ba thứ chữ viết “ba lăng nhăng” đó mà dân “tả đạo” không hề thua kém các ông nghè, ông cống về kiến thức, riêng khoa học kỹ thuật còn vượt trội. Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký là một ví dụ.

Rồi một “trăm năm đô hộ giặc Tây” (Trịnh Công Sơn) , Pháp nó áp đặt cho dân mình dùng thứ chữ viết đó để loại trừ ảnh hưởng Thiên triều. Cho dù các cụ Nguyễn Đình Chiểu, Tú Xương phản đối kịch liệt, nhưng các nho sĩ như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, các nhóm Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ đa số cựu học, ghét thực dân nhưng lại hô hào học chữ viết này “Chữ quốc ngữ là hồn trong nước. Phải đem ra tỉnh thức dân ta….(để)…có ngày tiến hóa, có ngày văn minh” (Trần quý Cáp). Dự đoán chính xác. Vào buổi giao thời, các cụ như tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi…rạng danh tên tuổi, không nhờ chữ Hán Nôm, mà là chữ quốc ngữ. Rồi đến thế hệ tân học, những người đấu tranh cho độc lập thống nhất đất nước cũng không muốn quay về quá khứ mà nhận ra tương lai thứ chữ sẽ đoàn kết nhân dân, thống nhất ý chí. Bản Tuyên ngôn độc lập 1945 viết bằng thứ chữ ấy và chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ chính trị, văn học và khoa học cả nước.

Không phủ nhận giá trị kho tàng Hán Nôm nhưng ai đó còn tiếp tục lên án chữ quốc ngữ bằng chữ viết quốc ngữ, là không công bằng.

Qua cuộc hội thảo khoa học Bình Định và chữ quốc ngữ, qui tụ nhiều giáo sư, nhà nghiên cứu với trên 80 bài tham luận cho thấy, đã đến lúc kết thúc việc đưa lên sách giáo khoa những thành kiến đã được khép lại. Ai có âm mưu này, thủ đoạn nọ, hãy nêu đích danh, không hồ đồ, vơ đũa. Hội thảo hình như cũng mong có những ý kiến phản biện, đã gài “cò mồi” để cử tọa lên tiếng, nhưng chỉ thấy im lặng, các vị lên tiếng lại “bênh vực” triệt để. Nên nhớ họ không phải là thuộc nhóm “ca tô”.

Bản thân đương sự vui mừng nhận xét.

Tiếng Việt bốn nghìn năm, ghi âm bằng mẫu tự la tinh, gọi là chữ quốc ngữ, đã giúp dân ta hết lệ thuộc chính trị, văn hóa “nước lạ”, nhất là giai đoạn gay go này. Đã đưa dân tộc vào hàng cao thủ biết đọc biết viết, phổ thông giáo dục v,v. Con số tỷ lệ sinh viên đại học trong nước và du học nước ngoài không thua kém cường quốc nào. Thời đại bùng nổ Internet, dân ta thỏa sức lướt sóng…tiếp cận với thế giới các nước hiện đại, văn minh thuộc hệ thống chữ la tinh. Trong khi người muốn biết thông tin, văn hóa, văn minh các cường quốc dân đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga Sô, Nhật Bản…cũng đành chịu sầu vì rào cản chữ viết.

Chữ quốc ngữ thể hiện nền độc lập, không lệ thuộc nước nào; phương tiện đoàn kết dân tộc. Dân Việt trong cuộc chiến tranh vừa rồi, bất hòa đủ chuyện, nhưng cùng dùng chung chữ viết quốc ngữ.

Hôm nay trong thời đại toàn cầu hóa, người Việt tản mác khắp thế giới, không đồng thuận nhiều việc nhưng với chữ quốc ngữ, họ luôn duy trì, trao đổi, cùng giúp nhau hoàn thiện “phông” (font) chữ Việt và những rắc rối chính tả. Văn minh, văn hóa, văn chương nước Việt …được trân trọng phát huy.

Các đại biểu dự hội nghị thỉnh thoảng đề xuất: dựng bia, dựng tượng, đặt tên đường tri ân các vị có công hình thành thứ chữ viết này. Dành một ngày tổ chức lễ hội tri ân chữ quốc ngữ.

Lập bảo tàng chữ Quốc ngữ. 

Nếu được hình thành, bảo táng đó chắc sẽ vô cùng vĩ đại. Sách các tôn giáo như Phật Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Công Giáo…viết bằng quốc ngữ không hề ít. Các văn bản, sách in của các đảng phái chính trị, không hề nhỏ. Rồi các phòng dành cho sách giáo khoa, khoa học, triết học, xã hội, ngành nghề….mảng báo chí viết bằng quốc ngữ rất đồ sộ. Cá nhân mình ước mong trực tiếp xem bộ sưu tập sách của Tự lực văn đoàn, các tác phẩm của phong trào Thơ mới, các bộ Từ điển…chỉ được nghe danh .

Những năm qua, Unesco ,Tổ chức Văn hóa giáo dục Liên hiệp Quốc đã công nhận bao di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam.

Chữ viết quốc ngữ xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể và vật thể của quốc gia Việt Nam. 

Tiếng Việt đang được giảng dạy khắp nơi trên thế giới, nhờ chữ viết quốc ngữ, nếu được đề xuất sẽ dễ dàng được tổ chức Unesco Liên Hiệp Quốc chấp nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới như đã từng công nhận chữ viết của một số ngôn ngữ.

Mọi người hãy tưởng tượng, nếu trong tương lai không còn ai biết đọc, viết chữ quốc ngữ, nước Việt sẽ ra sao?

Sẽ là đại thảm họa cho dân tộc Việt Nam.

Vậy thì chúng ta không ngần ngại hét lên: hoan hô, vạn tuế, muôn năm …chữ quốc ngữ.

(QUI NHƠN 14 THÁNG 01 NĂM 2016)[9].

3- Trong Hội trường Hội Thảo vào sáng ngày 13 tháng 01 năm 2016 vừa qua, sau khi đề nghị :

Tiếng Việt đang được giảng dạy khắp nơi trên thế giới, nhờ chữ viết quốc ngữ, nếu được đề xuất sẽ dễ dàng được tổ chức Unesco Liên Hiệp Quốc chấp nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới như đã từng công nhận chữ viết của một số ngôn ngữ”,

linh mục Nguyễn Trường Thăng hăng hái, đôi mắt sáng lên, giơ nấm tay mặt lên cao, miệng hét vang:

hoan hô, vạn tuế, muôn năm …chữ quốc ngữ”.

Cả hội trường vui nhộn lên như đồng tình đề xuất chân tình của diễn giả linh mục NGUYỄN TRƯỜNG THĂNG.

Tôi tự nghĩ, đây không phải là đề nghị tự phát hay do nhiệt huyết chốc thời, mà đã nghiền ngẫm nhiều năm:Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi …”, nay có dịp la lớn cho cả hội trường, cho cả nước, cho cả thế giới biết nguyện vọng chính đáng đã ấp ủ từ “khi mới ra đời” của mình.

Đồng tình đề xuất này, tôi nghĩ cần đặt một tên, một danh xưng: “ phải có “danh” gì với núi sông, với cộng đồng thế giới” chứ. Nên tôi xin mạn phép bạo miệng đề nghị:

“KHÔNG GIAN VĂN HÓA CHỮ QUỐC NGỮ”.

Xin mong mọi người nhận định và trao đổi rộng rãi trên diễn đàn qua phương tiện truyền thông đại chúng về DANH XƯNG này. Xin cảm ơn.

Kontum 20/01/2016

Nguyễn Hoàng Sơn

GPKONTUM (20/01/2016) KONTUM

 

[1] Xin xem “ Nước Mặn – Bình Định: Vai trò quan trọng hình thành chữ Quốc ngữ

     Thứ Tư, 13/01/2016, 21:54 (GMT+7)

    Nguồn:   http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=35&macmp=35&mabb=53060

[2]  Nguồn:  http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/283785/binh-dinh-voi-chu-quoc-ngu.html

[3]  Nguồn: http://skhcn.binhdinh.gov.vn/?p=7247

[4]  Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=35&macmp=35&mabb=53060

    Thứ Tư, 13/01/2016, 21:54 (GMT+7) – Nước Mặn – Bình Định: Vai trò quan trọng hình thành chữ Quốc ngữ.

[5]  Như trên

[6] NGUỒN: http://nongnghiep.vn/hoi-thao-khoa-hoc-binh-dinh-voi-chu-quoc-ngu-post155313.html

[7] NGUỒN: ttp://www.nhandan.com.vn/xahoi/tin-tuc/item/28516302-hoi-thao-khoa-hoc-%E2%80%9Cbinh-%C3%B0inh-voi-chu-quoc-ngu%E2%80%9D.html

[8] NGUỒN: http://m.cadn.com.vn/news/hoi-thao-quoc-gia-binh-dinh-voi-chu-quoc-ngu–143324-71

 [9] https://www.facebook.com/nguyen.t.thang.5099/posts/10205787198779271

%d bloggers like this: