Home > Ban MV-ĐoànThể, Ban Phụng Vụ, Ban Thánh Nhạc, GiáoPhận, Giới Thiệu, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Gặp Mặt Các Cha, Các Thầy Phó Tế Vào Ngày 03/01/2017 – Kinh Nguyện và Phụng Vụ Kitô Giáo v.v.v….

Gặp Mặt Các Cha, Các Thầy Phó Tế Vào Ngày 03/01/2017 – Kinh Nguyện và Phụng Vụ Kitô Giáo v.v.v….

08/01/2017

Trong cuộc gặp mặt tháng 01/2017 vừa qua với quí cha, quí thầy phó tế, Đức Cha Aloisiô Nguyễn Hùng Vị, Giám mục  Giáo phận  trình bày một số vấn đề.

 

  • THÔNG BÁO THÁNH NHẠC  (Ngày 1 tháng 11 năm 2016) của  Lm Trưởng ban Mục Vụ Thánh Nhạc  TGP Sàigòn – TPHCM, Thư ký UBTN-HĐGMVN.
  • CÁC LƯU Ý VỀ PHỤNG VỤ.

Ngài có giải nghĩa rõ thêm một số nội dung trên.

Sau đây là nguyên văn “CÁC LƯU Ý VỀ PHỤNG VỤ” :

“Qua  cuộc họp của  Hội Đồng Linh mục tại Tòa Giám mục Kontum ngày 29 tháng 11 và qua cuộc tĩnh tâm liên tu sĩ ngày 01 tháng 12 vừa qua tại Giáo xứ Thánh Tâm, giáo hạt Plei ku, có những vấn đề liên quan đến Phụng Vụ trong giáo phận Kontum chúng ta, nay xin đưa ra một số qui định chung.

  1. Về bổng lễ: Cha Quản lý có thể làm reductio một bổng lễ là 250.000 VNĐ.
  2. Về Thánh lễ, hiện Nghi Thức Thánh lễ đã có 3 công thức sám hối. Chúng ta không thể thêm công thức nào khác. Nghi thức sám hối với Thánh Vịnh 50 có thể thực hiện trong Mùa Chay, ngoài Thánh lễ …
  3. Về Bài Tin Mừng trong Thánh Lễ, trước khi công bố, thầy Phó Tế phải xin phép lành, Linh mục phải sám hồi để “xứng đáng và đủ tư cách”, nên giáo dân phải nghe chứ không đọc chung với thầy Phó tế hay Linh mục. Nếu muốn cho giáo dân tiếp cận với Lời Chúa, thì có thể cho đọc lại ở cuối bài giảng.
  4. Về Vịnh Tụng Ca “Chính nhờ Người, với Người và trong Người” là phần kết của Kinh Nguyện Thánh Thể dành riêng cho Chủ tế, giáo dân không được đọc hay hát theo chủ tế, mà chỉ đáp lại bằng tiếng “Amen”, một lần hay ba lần.
  5. Trong Phụng vụ, không nên dùng đàn trống hay đàn ghi ta điện (nhạc sống) hoặc vỗ tay theo nhịp như trong buổi sinh hoạt đời thường.
  6. Các ảnh tượng trong nhà thờ phải đẹp và cân đối. Những tượng “nghệ thuật bay bướm”, theo Đức Tổng Girelli, nên trưng bày ở nơi khác.
  7. Về Nhà Tạm lưu trữ Mình Thánh Chúa, nên theo hướng dẫn trong “Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma số 277” để “tránh tối đa mọi nguy cơ phạm thánh”.
  8. Trong Thánh Lễ, sự im lặng “cũng phải được tuân giữ đúng lúc” (Xem Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma số 22). Ví dụ: trước lời Tổng nguyện đầu lễ, sau lời mời “Chúng ta hãy cầu nguyện” thì giữ thinh lặng, chỉ thầm thĩ cầu nguyện trong lòng chứ không nói rầm rì ra ngoài miệng.

Nói tóm lại, chúng ta cố gắng giữ đúng Nghi Lễ Rôma và thực hiện đúng Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma. Tất cả chúng ta  đề thao thức việc hội nhập văn hóa, nhưng việc này rất khó, vì không tùy thuộc vào cá nhân nhà truyền giáo, cho dù là chuyên viên, nhưng tùy thuộc vào sự cho phép của Hội Đồng Giám mục địa phương và Tòa Thánh.

Kontum, ngày 01 tháng 01 năm 2017

+ Aloysiô NGUYỄN HÙNG VỊ”

  •   Nhân dịp này Ban mục vụ Truyền thông ghi lại đây bài nghiên cứu của Đức Cha Aloysiô NGUYỄN HÙNG VỊ khi Ngài chưa làm Giám mục (vào năm 2014). Bài nghiên cứu của Ngài có   thế giá vì ngài đã chuyên sâu về Phụng Vụ Thánh và có học vị về vấn đề này.

 Kinh nguyện và Phụng Vụ Kitô giáo Hòa Hợp trong bối cảnh Văn hóa Tây nguyện” [[1]] sau đây:

 “Đức Giám mục Giáo phận, Đức cha Phaolô Kim cũng nhận thấy bộ tộc Jrai vẫn còn lạnh nhạt và xa cách với Kitô giáo sau hơn 100 năm truyền giáo. Chính vì thế mà ngài đã tìm được một vị thừa sai chính hiệu có khả năng xây dựng từ số không một Trung Tâm truyền giáo và một cộng đoàn Kitô hữu Jrai giữa lòng sắc dân có tiếng là thù nghịch. Vị thừa sai đó là Cha Jacques DOURNES [[2]]. Trước đó, ngài đã tiếp xúc và có nhiều kinh nghiệm với người sắc tộc khi sống với người Srê ở Kala, gần Di Linh, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng. Ngài có kiến thức uyên bác về thần học, ngôn ngữ học và nhân chủng học. Được Đức Cha SEITZ thả xuống Cheo Reo năm 1955, vùng đất của người Jrai, vùng giáp ranh với Phú Yên, ngài đã mày mò học tiếng, làm tự điển, soạn kinh, soạn sách giáo lý, dịch Kinh Thánh, làm bài hát Thánh Vịnh Jrai với nhạc bình ca. Điểm nổi bật là, dù ở thời tiền Công Đồng Vaticanô II, ngài đã có cái nhìn “tiên tri” với chương trình chuẩn bị cho các dự tòng rất chu đáo, điều mà ngày nay Giáo Hội khuyến khích phải thực hiện trong nghi thức gia nhập Kitô giáo cho các dự tòng ở tuổi trưởng thành, nghĩa là phải qua các “giai đoạn‟ và “những thời gian‟ tiệm tiến.

Vấn đề : vật linh của anh em dân tộc muốn tòng giáo :

“Cha DOURNES thì tế nhị hơn, vì không muốn xúc phạm niềm tin tôn giáo của các dự tòng đã có đối với các linh vật. Ngài nói với họ đưa linh vật cho ngài giữ cho, nếu sau này không muốn theo đạo nữa thì đến lấy lại. Ngài kể: “Chiều áp lễ nhập khóa, chính những người dự tòng tương lai đến Điểm Truyền Giáo trao cho chúng tôi các linh vật của họ, chúng tôi đón nhận cách trân trọng, để khỏi làm tổn thương tâm hồn tôn giáo của họ, vì tâm hồn ấy đã gắn vào các linh vật đó những giá trị thiêng liêng không thể thay thế được, nhưng tâm hồn ấy vẫn cần một sự nâng đỡ. Chính sự nâng đỡ này hay ít ra là ý nghĩa của nó là cái mà chúng ta phải thay đổi; phá đổ nó có thể sẽ tạo nên một tổn thương tâm thần không thể sửa chữa được, hay lúc đó, vì bản năng tự vệ, người Jrai sẽ chỉ mang đến cho chúng tôi những đồ chơi, còn những đồ thật thì cất giữ ở nhà. Biết rằng những vật linh sẽ được cất giữ nơi ông Cha bao lâu họ muốn, và họ có thể lấy lại nếu họ không bền chí (trong thực tế điều đó chưa bao giờ xảy ra), họ tin tưởng trao cho chúng tôi tất cả: vòng có khắc những lời cầu phúc và tăng sức, nhẫn sự sống, đèn thờ, đĩa đựng đồ cúng cho các yang, lá bùa bằng thạch anh, dây biểu tượng cho những con vật đã được hiến tế, những miếng bông tẩm nước mắt voi, đá thiêng, sừng tê giác và cả ngà voi nữa [[3]]”.

“Cha DOURNES cũng để ý đến Bí Tích Giải tội. Theo ngài, người sắc tộc không có ý niệm về tội cho bằng là về lỗi. Mà lỗi chỉ là vi phạm điều cấm kỵ. Muốn xóa lỗi thì chỉ cần đền bù cho người ta hay cúng tế cho thần linh là xong, có khi rất tốn kém. Nếu chưa đền bù thì vẫn còn lo sợ sự trả thù. Dựa vào đó, có người bị cám dỗ muốn đốt giai đoạn trong truyền giáo, khi đưa ra mối lợi vật chất, như kiểu nói: “Theo đạo đi, có lợi lắm, khỏi cúng nữa, đỡ tốn kém!”. Cha DOURNES nhận xét: “Người Jrai có một niềm tin. Tấn công niềm tin ấy, không phải là xây dựng Hội Thánh Công Giáo, mà cùng lắm là một bước đầu tiên đưa tới vô thần [[4]]”, hoặc “hướng về tiền bạc như hướng về một yang mới [[5]]”. Vị thừa sai phải đổi mới quan niệm của họ về sám hối: “[Người Jrai] có những lễ nghi đền bù công khai, gây ấn tượng và tốn kém; họ luôn sẵn lòng làm việc đó. Chúng tôi cần phải đổi mới tinh thần cho những lễ nghi đó: từ  “những đền bù mang tính hình thức‟, chúng sẽ trở thành những việc đền tạ sám hối[6]”. Vì thế đôi khi ngài cũng bắt làm việc đền tội khắt khe. Ngài giải thích: “Nếu không có việc đền bù tốn kém, chính họ và những người ngoại trong làng sẽ khinh chê đạo, như họ chê một thứ thuốc cho không – “vậy nên điều đó chẳng có giá trị gì!”. Một việc đền tội khắt khe sẽ làm cho họ thấy sự nghiêm túc của việc trở lại, ý thức về sự cao cả của Thiên Chúa; họ biết đánh giá cao điều đó bởi vì họ đã được chuẩn bị [[7]]”.

Khó khăn và nguy cơ trong việc hội nhập

“Việc hội nhập văn hóa tại giáo phận Kontum gặp nhiều khó khăn. Trước tiên là sự kiện có rất nhiều bộ tộc khác nhau trên địa bàn với ngôn ngữ khác nhau, và trong mỗi bộ tộc cũng có những khác biệt từ vùng này sang vùng khác, thậm chí từ làng này sang làng khác. Thứ đến nhiều bộ tộc chưa có chữ viết hoặc chưa thống nhất được chữ viết; mỗi người tự sáng chế theo cách riêng của mình. Tiếp đến, để khởi đầu một bản dịch, phải xem nên chọn ngôn ngữ của vùng nào, thường là ưu tiên cho vùng có số dân đông nhất, nhưng không vì thế mà không lưu tâm đến từ ngữ của các vùng chung quanh. Vì thế việc dịch thuật mất rất nhiều thời gian. Lại nữa, chuyển dịch không phải là cứ tìm từ tương đương rồi ráp lại với nhau, một kiểu nói tiếng Pháp hay tiếng Anh mà người Pháp hay người Anh không hiểu, ví dụ như no star where (=không sao đâu). Cha DOURNES cũng đồng ý như thế khi ngài nói người ta có thể dịch từ La-tinh bằng tiếng Jrai, việc đó chẳng bao giờ làm nên tiếng Jrai[8]. Đó là điều mà các vị thừa sai trong bước đầu truyền giáo hay vấp phải, chính vì thế mà phải chỉnh sửa bản dịch với thời gian. Theo kiểu nói của J.-M. de LACHAGA, phải làm sao đi từ phiên dịch ở mức cấp 1 (về mặt ngôn ngữ) sang phiên dịch ở mức cấp 2 (au second degré) (về mặt tâm thức), nghĩa là có sự nhập thể trong khung cảnh văn hóa của một bộ tộc cụ thể”[[9]].

“Phải hội nhập văn hóa, đúng, nhưng như thế nào ? Đó là vấn đề khó. Ngay sau Công Đồng Vaticanô II, có sự lạc quan thái quá, khi có trào lưu muốn bãi bỏ tiếng La-tinh và thay thế rượu nho bằng rượu làm bằng gạo hay bắp, và thay bánh từ bột lúa mì bằng thứ ngũ cốc khác. Điều này đã không hề xảy ra. Trong Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Độ, Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cảnh báo: “Kết cục, hội nhập văn hóa phải là công việc của tất cả Dân Thiên Chúa chứ không phải chỉ là của một vài nhà chuyên môn, bởi vì đã rõ là Dân Thiên Chúa phản ảnh cảm thức chân thực của đức tin, điều mà ta không bao giờ được quên. Quả thực, việc hội nhập văn hóa phải được hướng dẫn và khuyến khích, nhưng không được gò ép để khỏi gây ra những phản ứng tiêu cực nơi các Kitô hữu: đó phải là cách diễn tả sinh hoạt cộng đoàn, tức là phải chín muồi giữa lòng cộng đoàn chứ không chỉ là kết quả của những tìm kiếm uyên bác” [[10]]. Thực sự ra sự hội nhập văn hóa trong Giáo Hội La-tinh xem ra mới dừng lại ở việc thích nghi hơn là nhập thể, để không làm biến thể nó hay đi tới chỗ tạo nên một Lễ nghi mới. Huấn thị thứ IV Varietates Legitimae ngày 25/1/1994 cũng xác nhận như thế [[11]].

“Hội nhập văn hóa không phải là dễ. Những kinh nghiệm của lễ nghi Za-ia và Ấn Độ cho thấy điều đó. Về thánh lễ theo lễ nghi Za-ia (rite zairois), có nhận xét rằng: với chủ tế đầu đội mũ có sừng có gạc và lưng mang rìu mang rựa, giúp lễ thì trang bị gươm đao, chẳng thấy vai trò của Vị Mục Tử Nhân Lành đâu cả[12]. Và còn nhận thấy trong buổi lễ, vì quá nhấn mạnh đến tính cách lễ hội tập thể và đề cao sự náo nhiệt ồn ào, nên người ta ao ước có thêm bầu khí tĩnh lặng cần thiết cho sự cầu nguyện cá nhân [[13]]. Về việc hội nhập Bí Tích Thánh Thể ở Ấn Độ, thì Rôma cho phép sử dụng thái độ và cử chỉ của người Ấn, cách dùng hương, hoa và  đèn, việc thích nghi chén và áo lễ, v.v., nhưng lại từ chối việc sáng tác một Kinh Nguyện Thánh Thể mới cho Ấn Độ[14].

Kết:

Tác giả thường dùng “hội nhập văn hóa” nhưng thái độ vẫn nói lên “tiếp diễn văn hóa”, nghĩa là không làm biến mất văn hóa nội địa, mà vẫn tôn trọng vị thế văn hóa đó, và mời gọi người dân tộc ý thức giá trị xuyên suốt cuộc sống cụ thể của họ khi đón nhận văn hóa và tôn giáo Công giáo. Tác giả kết luận như sau:

“Việc hội nhập văn hóa đã có từ lâu trong lịch sử, mặc dù danh xưng mới có gần đây. Vấn đề hội nhập là vấn đề khó và tế nhị nên cần nhiều thời gian, chứ không phải là công việc một sáng một chiều. Cần phải có những người chuyên môn và nhiệt huyết, am hiểu về văn hóa bản địa, biết khơi trong gạn đục, để qua đó có thể diễn tả Tin Mừng của Chúa cho những người thuộc nền văn hóa đó. Nói như thế để thấy rằng còn nhiều việc phải làm đối với việc hội nhập văn hóa ở Tây Nguyên nói chung và ở Kontum nói riêng.

Tết Trung Thu năm 2014

Lm Aloysius Nguyễn Hùng Vị

 

Ghi chú:

[1]  Xin xem: Lm Aloysius Nguyễn Hùng Vị,  “Kinh nguyện và Phụng Vụ Kitô giáo Hội nhập trong bối cảnh Văn hóa Tây Nguyên”, Tết Trung Thu 2014.  Nay tác giả là Giám mục Giáo phận Kontum, cuối năm 2015.

[2] X. Jacques DOURNES, “Thiên Chúa yêu thương muôn dân”, Nhà xuất bản tôn giáo, 2011; nguyên tác Dieu aime les Paiens

[3]  Sđd, trg 198.

[4] Sđd, trg 76.

[5] Sđd, trg 76.

[6] Sđd, trg 203.

[7] Sđd, trg 204.

[8] “On peut traduire du latin en mots jrai, cela ne fera jamais du jrai.” X. Jacques DOURNES, Le Père m’a envoyé: réflexions à partir d’une situation missionnaire, Paris, NXB Cerf, 1965, trg 124.

[9] “[…] l‟incarnation dans le contexte culturel d‟une ethnie bien concrète”. X. J.-M. de LACHAGA, Eglise particulière et minorités ethniques, jalons pour l’évangélisation des peuples minoritaires, Paris: Le Centurion, 1978, trg 214-215

[10]  Thánh Giáo Hoàng GIOAN-PHAOLÔ II, Thông điệp Đấng Cứu Độ, 1991, Bản rônêô, số 54.

[11] X. Documentation Catholique, số 2093, 1/5/1994, trg 440 : “La recherche d‟inculturation ne vise pas la création de nouvelles familles rituelles; en répondant aux besoins d‟une culture déterminée, elle aboutit à des adaptations, qui font toujours partie du rite romain”.

[12] “Dès les premìeres célébrations du rite zairois, le peuple, presque unanime, marqua une nette réticence vis-à-vis des insignes portés par le célébrant (un couvre-chef à trois ou quatre cornes et une serpette) et par les servants (lances). On n‟y a pas perçu le rôle du Bon Pasteur…” X. LONDI BOKA DI MPASI, “Inculturation de l‟Eucharistie au Zaire”, trong eucharistia, Encyclopédie de l’ Eucharistie, Chủ nhiệm M. Brouard, s.s.s., Paris: Cerf, 2004, trg 359.

[13] “A l‟heure actuelle, un souhait persiste principalement de la part des adultes: ménager un peu plus de temps de calme,pour une prìère personnelle, afin de tempérer la dimension communautaire qui, de prépondérante, risque d‟être unilatérale”. Sđd. trg 360.

[14] P.PUTHANANGADY, “Inculturation de l‟Eucharitie en Inde”, trong trong eucharistia, Encyclopédie de l’ Eucharistie, Chủ nhiệm M. Brouard, s.s.s., Paris: Cerf, 2004, trg 365: “Dans cette prière [eucharistique] on proclamait, en même temps que les merveilles de l‟histoire du salut judéo-chrétienne, les interventions salvatrices de Dieu dans l‟histoire et la vie du peuple de l‟Inde. Mais, malheureusement, cette prière n‟a pas reçu l‟approbation de l‟autorité romaine et, par conséquent, elle n‟a jamais été officiellement utilisée dans aucune de nos célébrations eucharistiques”.

GPKONTUM (08/01/2017) KONTUM

Advertisements
%d bloggers like this: