Home > Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861

10/04/2018

Vị Tử Đạo người Bélieu – Étienne – Théodore CUENOT
Giám Mục Thừa Sai
1802 -1861

 

Tàu vượt biển đến Xinh-Ga-Po (09/03/1835)

 

“Vượt biển” và chờ đợi những ngày đẹp trời hơn.

 

ĐÀN CHIÊN BỊ TẢN NÁT

 ( tiếp theo)

 

Ngày 6.1.1833, được ban hành sắc dụ cấm đạo toàn quốc, và được trình bày như một sự đồng ý trước yêu cầu của Bộ Lễ, chống lại đạo công giáo. Thêm vào đó “các đạo trưởng đã chia cắt vương quốc và thành lập bấy nhiêu chính phủ theo ý họ (các giáo phận). Các Kytô hữu kính nể họ đến độ chỉ cần họ há miệng là chúng tuân theo ngay và trong một nháy mắt, các tin tức trong nước được loan đi từ Bắc chí Nam…không thể chịu đựng được nữa những con người mọi rợ đó, đến để rao giảng, và sẽ thẳng tay trừng trị những ai chứa chấp họ. Còn phải cấm các sách viết bằng chữ mọi rợ nữa, chúng sẽ phải bị xé đốt. Cũng sẽ cấm việc đọc kinh, dù là đọc thầm trong các gia đình. Cũng phải tóm hết các thầy giảng và các gia trưởng và bắt họ phải đạp Thập Giá…” (Hệ thống chữ viết theo tự mẫu La-tinh làm cho mọi người dễ dàng tiếp xúc sách báo, lại đặc biệt chạm tính tự ái của các Nhà Nho, vì họ muốn giữ độc quyền về giáo dục).

Sắc dụ của Minh Mạng giọng điệu long trọng:

 “Ta Minh Mạng, sau đây là lệnh của Ta…Đã từ lâu nhiều người Âu Châu, đến giảng đạo Da-tô, lừa dối dân đen, kích thích, quyến rũ những người yếu kém không biết gì, dạy chúng có một Thiên Đàng Hỏa Ngục, chúng không thờ Phật, không thờ ông bà, thật là vô đạo, hơn nữa chúng dựng những nhà thờ, trong đó trai gái ra vào lẫn lộn, mục đích là quyến rũ phụ nữ đàn bà, chúng còn múc mắt những người đau ốm. Thật là một điều trái với luân thường đạo nghĩa.

Vì vậy ta truyền cho tất cả những người đi đạo từ quan đến dân….hãy thật lòng bỏ đạo. Các hàng quan lại phải xét xem các giáo dân ở hạt mình có vâng theo thượng lệnh không? Và họ phải đứng trước mặt mà dẫm chân lên Thập Giá. Còn các nhà thờ và các nhà ở của giáo sĩ thì phải triệt để phá đi hết. Sau này còn có người phạm tội theo đạo ấy thì trừng phạt rất nghiêm để cho triệt gốc tà đạo”[[1]].

Một sắc lệnh khác bổ sung chỉ được gửi đến các quan lớn, liên quan đến các vị thừa sai:

“Ta ra lệnh cho các quan lại ở các tỉnh và những người cai trị dân bắt giữ các đạo trưởng Tây dương, không chậm trễ giữ họ về Kinh thành để dịch sách. Còn các đạo trưởng bản xứ, phải kìm chân họ ở lại các thủ phủ, cho canh gác gắt gao kẻo chúng chuồn mất hoặc bắt liên lạc với dân chúng….Hãy hành động cẩn thận, đừng gây rối loạn. Ta cấm không được phổ biến chỉ dụ này…”[2] .

Con chiên bổn đạo hoang mang lo sợ: cho đến nay có thể tránh né các lệnh cấm bằng vài thỏi bạc đem nạp cho các quan lại. Nay họ phải chạy trốn trên sông hoặc trong các rừng rậm: 300 nhà thờ bị phá hủy, 18 dòng tu bị giải tán, các chủng viện tàn phá. Không thể nào kể xiết con số những nạn nhân trong 2 năm 1833 và 1834. Một thống đốc bày ra một chiếc gong dài như một cái thang có thể gông một lúc 7-8 cái đầu: chỉ cần một người cựa quậy là làm khổ cho mấy người kia…

Các thừa sai đã nhận được văn bản nhờ Cha Gagelin[3] mà một quan biết ơn, đã chuyển cho Ngài. Trước khi tiếp tục lần theo vết chân Lm Cuenot, chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn với hai vị tử đạo khác. Lm Gagelin trốn lên rừng ở miền trung Nam Kỳ – bị kẻ cướp trấn lột và để tránh cho bổn đạo, rời bỏ hàng ngũ, Ngài đến trình diện với ông quan địa phương. (có lẽ trong hy vọng một cuộc dàn xếp). Khốn khổ cho Ngài. Ngài bị thắt cổ chết gần Huế ngày 17.10.1833 vì “tội đã giảng dạy và phổ biến đạo của Đức Giêsu”.

Còn Lm Marchand[4], bị quân phiến loạn của Lê-Văn-Khôi bắt cóc và buộc phải theo họ về đồn Sai-Gòn. Bị kết án là một trong những người lãnh đạo của quân phiến loạn, Ngài đã chịu cực hình ác độc và kéo dài: bị lăng trì, lột da sống và xẻo một trăm mảnh thịt, Ngài đã tắt thở trước khi bọn lý hình đã làm xong việc: đó là ngày 30.11.1835

Còn ở Nam Kỳ, chủ chăn cũng như con chiên đã có một lối thoát khác: “Vượt biển” và chờ đợi những ngày đẹp trời hơn. Giám Mục Taberd bị quản thúc ở Lái Thiêu với chỉ thị về Huế “Làm công việc dịch thuật” Giám Mục lợi dụng những ngày lễ hội nhân dịp Tết (20-2-1833), đánh lạc những người canh gác mình với vài lạng bạc và trốn sang Xiêm. Sau bao nhiêu là tai biến hiểm họa Ngài đến cảng Chantabun ngày 21.3.1833.

Lm Cuenot cũng theo chân Ngài với đám chủng sinh. Việc tiến quân của triều đình và việc giết hại tín hữu cũng đủ cho thấy mối nguy: với bất cứ giá nào phải đưa họ đến chủng viện Pinang. Chính tương lai của các em chủng sinh này ám ảnh Ngài ngày đêm như sau này Ngài nói:

“Thà tôi chết, sớm muộn gì người ta có thể thay thế tôi, trong vòng một năm, còn nếu một linh mục bản xứ hay một chủng sinh này thiệt mạng, thì đối với công cuộc truyền giáo sẽ phải mất 20 đến 30 năm để thay thế họ.”

Nhưng nước Xiêm chưa phải là bến bình yên. Chiến tranh đã bùng nổ giữa hai nước. Dân Xiêm tràn xuống Nam Kỳ, bằng đường bộ và đường biển. Họ hôi được bao nhiêu là chiến lợi phẩm và bắt hàng nghìn tù binh trong số đó có 4.000 Kytô hữu bị họ đưa về, phỉnh họ rằng đó là theo lệnh của Giám Mục của họ. Cuộc chiến này đầy xảo quyệt đã giết hại nhiều người và làm cho Giám Mục Taberd trở nên trò đùa bỉ ổi đối với cả hai dân tộc. Ba linh mục và khoảng 15 chủng sinh bị bắt làm tù binh.

1833-1834: hai năm nặng nề đối với Lm Cuenot. Hai cụm từ cũng đủ để mô tả tất cả:

– “Ngài mòn mỏi vì buồn phiền” và
– “Ngài cầu nguyện nhiều”

Một bức thư gửi cho cha mẹ từ Chantabun và để ngày 10.9.1833 thì không hề để lộ những nỗi âu lo của Ngài. Ngài vẫn bình thản và đẩy những “tư tưởng về vĩnh cữu”.

“Từ ngày con ở trong những đất nước này, con nhận được chỉ có một bức thư của Bố Mẹ. Con rời khỏi Nam Kỳ đã 6 tháng nay. Minh Mạng truy lùng các Thừa sai để bỏ tù rồi gửi về lại bên Âu Châu. Ông đã bắt được vài người nhưng chúng con không có tin chính xác. Đức Giám Mục, một Thừa Sai khác và con, chúng con đã tẩu thoát sang một nước láng giềng, nước Xiêm. Năm ngoái con bị bệnh nặng….nhưng Thiên Chúa đã để con lại trên đời này ít lâu nữa để chịu đau khổ mà đền tội. Như vậy là từ khi ở đất truyền giáo đã bốn lần con chuẩn bị chết và bốn lần con đã chết hụt. Con Bố Mẹ thì sao, chắc Bố Mẹ đã già. Con có thể đoán được khi thấy tóc con bắt đầu trắng…Thế nên chúng ta hãy chuẩn bị chết lành. Đó là điều chính yếu (…)”

“Dù ở xa, con vẫn nghe được những điều bất hạnh nước Pháp đang trải qua. Ước gì Thiên Chúa thương hại và ban cho nước Pháp hòa bình. Vĩnh biệt: Bố Mẹ thân yêu. Hẹn gặp lại nhau trên Trời. Con cầu nguyện hết lòng mỗi ngày cho Bố Mẹ, bà con cô bác cùng ân nhân tất cả.”

Nếu Nước Trời đang hé mở đới với Lm Cuenot, thì ở dưới đất, tất cả đều tắc nghẽn: bị trục xuất từ thành phố này sang thành phố khác, mục đích là để gây phiền nhiễu, cấm không được cư ngụ ở phần Cam-bôt đang thuộc chủ quyền của nước Xiêm. Cấm không được ban các phép bí tích cho người an-nam đang bị kẹt ở Chantabun…Họ quả là những con tin của vủa Xiêm rồi.

“Lúc đó, Lm Cuenot nói, tôi quyết định tẩu thoát. Giám Mục nước Xiêm cũng không chống đối nhưng nỗi lo sợ hậu quả. Ngài khổng thể giúp tôi được. Sau khi thu xếp công việc xong, khi Lm Régéreau đến, tôi nghĩ: chúng tôi sẽ ra đi bằng xuồng nhỏ đến với một chiếc tàu biển đậu ngoài khơi và sau đó “nhân danh Thiên Chúa” chúng tôi sẽ rời khỏi một đất nước nơi mà sự hiện diện của mình không những vô ích mà còn tai hại cho công cuộc truyền giáo mà Thiên Chúa đã mời gọi mình chu toàn”.

Cuộc mạo hiểm này đã thành công. Chúng ta có thể đoán được mọi hiểm nguy qua tiểu dẫn sau đây mà một trong những cộng sự viên của Gm Cuenot sẽ viết sau khi Ngài qua đời:

“Lm Cuenot đã phải vận dụng tất cả sự thận trọng của mình như thế nào để chuẩn bị và chu toàn cuộc tẩu thoát của tập thể nhỏ bé của mình. Cuộc tẩu thoát ấy diễn ra bằng đường biển, không người lái, không địa bàn, và độc chỉ trên một chiếc thuyền đánh cá, thuyền ấy đã đến được Xinhgapo sau bao nhiêu hiểm nguy.”

Ngày mồng 9.31835, sau một cuộc vượt biển 30 ngày, Ngài đã đến Xinh-ga-po. Cùng với Lm Cuenot, có 2 linh mục bản xứ, vài chủng sinh, 2 thầy giảng và bổn đạo khác, tổng cộng là 17 miệng ăn, nhiều người ăn mặc rách rưới, và cần phải đưa các chủng sinh đến Pinang, thế mà trong ví không còn một xu…Ngài đã toan ghé vào Nam Kỳ nhưng người chung quanh Ngài quá nhát gan[5].

Cũng trong bức thư đó, Lm Cuenot bảo vệ các tín hữu Đồng Nai bị kết án là đã tiếp tay trong cuộc nổi loạn:

“Giữa chúng tôi đây có 2 thầy giảng và hai tín hữu đã từng chứng kiến hết mọi sự, họ đã chỉ rời khỏi Sài-Gòn sau khi quân đội triều đình đã đóng chiếm từ nhiều tháng và họ đều đồng thanh về những điểm sau đây: không một tín hữu nào đã biết đến dự án của quân phiến loạn trước khi dự án ấy được đưa rat thi hành, tướng quân phiến loạn đã phỉnh họ một cách nham hiểm rằng y không dùng họ để chống lại hoàng đế mà chỉ để canh giữ thành. Chỉ dựa trên lời hứa đó mà một vài người đã nhận một vài công việc, hơn nữa họ còn bị dọa chết, theo tập quán, nếu họ từ chối tuân phục quyền bính hiện hành và được toàn thể xứ Nam Kỳ nhìn nhận.”

Vinh dự đó của những người Kytô hữu xứ Nam Kỳ là chính vinh dự của Ngài: không chậm trễ Ngài sẽ về lại với họ.

[1]Trích thư Lm M.de la Motte gửi cho Giám Đốc Hội Thừa Sai, ngày 10.2.1833
[2] Trích thư của Lm Cuenot, ngày 9.5.1833
[3]   Lấy ten Việt Nam là Lm Kính
[4]   Lấy tên Việt Nam là Lm Du.
[5] Thư ngày 17.3.1835
GPKONTUM (10/04/2018) KONTUM
Advertisements
%d bloggers like this: