Home > GiáoPhận, Giới Thiệu, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Giáo Xứ Gò Thị – Giáo Phận Qui-Nhơn – Vị Tử Đạo người Bélieu,  Étienne – Théodore CUENOT, Giám Mục Thừa Sai (1802 -1861)

Giáo Xứ Gò Thị – Giáo Phận Qui-Nhơn – Vị Tử Đạo người Bélieu,  Étienne – Théodore CUENOT, Giám Mục Thừa Sai (1802 -1861)

21/04/2018

Ban Mục Vụ Truyền thông Giáo Phận Kontum đang đăng tải
“Tiểu sử và Sự Nghiệp của Đức Giám Mục Stêphanô Cuenot Thể”
qua  tác phẩm ” Vị Tử Đạo người Bélieu,  Étienne – Théodore CUENOT, 
Giám Mục Thừa Sai (1802 -1861) của  Jean THIÉBAUD (1988).

Trước nhất chúng tôi:

I –  xin đăng một ĐỊA DANH không thể thiếu để hiểu biết đời sống mục vụ của Đức Thánh Giám mục , đó là  Giáo Xứ GÒ THỊ – Giáo Phận Qui-Nhơn. Chúng tôi xin trích dẫn một đoạn liên quan đến nơi Đức Thánh Giám Mục Cuenot đã trú ẩn và điều hành công việc mục vụ, nhất là  triệu tập Công Nghị Đàng Trong (1841), đó là “Nhà mồ côi Gò Thị là một cơ sở từ thiện có gốc gác từ thời Đức cha Cuénot Thể, được tái thiết sau năm 1871 nhằm đáp ứng nhu cầu cho nhiều trẻ mồ côi trong vùng“.

II – Vị Tử Đạo người Bélieu,  Étienne – Théodore CUENOT, Giám Mục Thừa Sai (1802 -1861) của  Jean THIÉBAUD (1988).

 

 

I- ĐỊA DANH –  chúng tôi xin trích dẫn “Giáo xứ Gò Thị” dựa vào trang mạng thông tin của Giáo phận Qui-Nhơn : http://gpquinhon.org

 

 

GIÁO XỨ GÒ THỊ

Bổn Mạng : Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

 

 

I- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Theo bản đồ hành chánh hiện nay, giáo xứ Gò Thị bao gồm xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Trung tâm sinh hoạt của giáo xứ là nhà thờ Gò Thị, thôn Xuân Phương, xã Phước Sơn, cách thành phố Qui Nhơn khoảng 20 km về phía Bắc. Đông giáp đầm Thị Nại, Tây giáp giáo xứ Lục Lễ, Nam giáp giáo xứ Tân Quán, Bắc giáp giáo xứ Nam Bình và giáo xứ Vĩnh Thạnh.

II-ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ

Tháng 7 năm 1618, cha Buzomi, cha De Pina và cha Borri là các thừa sai Dòng Tên đã đặt chân đến Nước Mặn và lập cư sở truyền giáo ở đó. Lúc bấy giờ, Nước Mặn là một thương cảng trù phú nằm trên bờ phía Tây Bắc đầm Thị Nại, cách nhà thờ Gò Thị hiện nay khoảng 5 cây số về phía Tây Bắc, nay thuộc thôn An Hoà, xã Phước Quang, thuộc giáo xứ Nam Bình. Qua thời gian, phù sa từ dòng sông Kôn đổ về đầm Thị Nại đã dần dần làm xuất hiện những gò đất mới như Gò Vạn, Gò Bồi, Gò Thị, Gò Dài… và dân chúng cũng dần dần đến sinh sống nơi những gò đất mới ấy, trong đó có các giáo hữu. Cụ thể, theo báo cáo năm 1747 do cha Guillaume Rivoal ghi phần truyền giáo của Hội Thừa Sai Paris thì Gò Thị đã có 60 giáo hữu, Kỳ Sơn 80[1]. Năm 1778, trong chuyến công cán từ Macao đi Cambốt, cha Jacques Liot, thừa sai Paris, có ghé thăm Gò Thị. Cha dâng thánh lễ và rửa tội cho 2 đứa trẻ và một bà cụ 67 tuổi tại Gò Thị.[2]

Đến năm 1850, theo báo cáo của Thánh Giám mục Stêphanô Cuénot Thể, vùng đất thuộc giáo xứ Gò Thị ngày nay có: Gò Thị 750 tín hữu, Gò Dài 442. Đây là 02 trong số 17 giáo điểm lúc bấy giờ thuộc hạt Tam Thuộc.

Từ năm 1839, Gò Thị đã có vinh dự được Đức cha Stêphanô Cuénot Thể chọn làm nơi đặt Toà Giám mục và ngài đã thường xuyên ở đó cho đến năm 1861. Sở dĩ có sự chọn lựa này là vì vùng đất Gò Thị xa triều đình Huế, các quan sở tại thực hiện lệnh cấm đạo có phần nhẹ nhàng hơn, giáo hữu đã đông lại tận tuỵ và trung thành. Thêm vào đó, vùng này địa hình thấp, ít đường đi, gần đầm Thị Nại và không xa cửa Kẻ Thử bao nhiêu, nhờ đó Đức cha có thể trốn lánh dễ dàng khi gặp nguy hiểm.

Toà Giám mục, nơi Đức cha cư trú và làm việc chỉ là một ngôi nhà tranh như bao ngôi nhà khác trong xóm, chỉ khác là phía sau có cửa và đường trốn thoát, để khi có hiệu báo, Đức cha cứ theo đó lánh nạn. Có những lúc do hoàn cảnh quá khó khăn, giáo hữu Gò Thị phải đưa Đức cha tạm lánh ở Gia Hựu, Mương Lỡ, Tân Hội, Xóm Nam. Có khi giữa đêm khuya phải đưa Đức cha trốn vào tu viện Mến Thánh Giá, hay ra đồng ruộng hoặc vào các đám lau sậy sát ven đầm.

Đức cha không ra mặt vào ban ngày. Cứ đêm đến các chức sở đưa ngài đi nơi này đến nơi nọ để gặp gỡ và dạy dỗ giáo hữu. Chính tại Gò Thị, vào các ngày 5, 6 và 10 tháng 8 năm 1841, Đức cha đã triệu tập công nghị Gò Thị, để ban cho các linh mục một hiến chương đời sống cá nhân và những chỉ dẫn mục vụ quí giá. Ngay sau công nghị, Đức cha Stêphanô Cuénot Thể truyền chức Giám mục cho cha Đôminicô Lefèvbre làm Giám mục phó có quyền kế vị.

Cũng tại Gò Thị, vào ngày 04/10/1846 Đức cha Cuénot truyền chức Giám mục cho cha Phanxicô Pellerin làm Giám mục phó có quyền kế vị. Lúc nầy Đức cha Đôminicô Lefèvbre đã làm Giám mục Tây Đàng Trong.

Phải nhìn nhận rằng sở dĩ Đức cha có thể sống an toàn và làm việc hiệu quả giữa cơn cấm cách, phần lớn nhờ sự giúp đỡ tận tình của giáo hữu Gò Thị, đặc biệt là ông trùm cả Anrê Nguyễn Kim Thông. Ông trùm cộng tác với Đức cha lo việc giáo phận cho đến năm 1855 thì bị lưu đày vào Định Tường và chết ở đó ngày 15/7/1855.

Sáu năm sau cái chết của ông Trùm Anrê, lệnh phân sáp của vua Tự Đức được thực hiện triệt để, các giáo hữu Gò Thị bị phân tán trong các làng ngoại giáo và do đó Đức cha phải rời Gò Thị đến ẩn lánh tại nhà bà Maria Mađalêna Huỳnh Thị Lưu ở Vĩnh Thạnh (Gò Bồi), vì bà này được xã tổng cho hoãn lệnh phân sáp. Sau mười ngày ẩn nấp, ngài đã bị bắt ngày 24 tháng 10 năm 1861, bị giải về nhà giam Bình Định và cuối cùng đã chết rũ tù ngày 14 tháng 11 năm 1861.

Đức cha Stêphanô Cuénot Thể và ông trùm Anrê Nguyễn Kim Thông đã được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII nhận vào bậc Đáng kính ngày 13 tháng 2 năm 1899, được Đức Giáo Hoàng Piô X tôn lên hàng Chân phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Tại Gò Thị, trong những cơn bách hại dưới triều Tự Đức, nhiều nữ tu, chức sở và giáo hữu cũng chịu nhiều khốn khổ: kẻ bị tù, người bị đày, kẻ khác bị giết, còn phần đông bị phân sáp vào các làng ngoại giáo. Đặc biệt cha Giuse Thủ (con của Trùm Cả Anrê), cha Phaolô Châu (cháu họ của Trùm Cả Anrê) và ông từ Phêrô Me, cả 3 người quê ở Gò Thị. Từ năm 1909, hồ sơ xin phong thánh cho các vị đã được Tòa Thánh cứu xét và năm 1918 Tòa Thánh đã ban hành sắc lệnh tuyên bố các vị lên hàng Tôi tớ Chúa. Sau hoà ước Nhâm Tuất năm 1862, đạo thánh Chúa được tự do, giáo hữu Gò Thị được trở về quê quán làm ăn, gần 200 người đã chết hoặc mất tích trong thời kỳ cấm đạo.

Sau khi Đức cha Stêphanô Cuénot Thể qua đời, Gò Thị không còn là nơi cư trú thường xuyên của các Giám mục nữa. Đức cha Êugêniô Charbonnier Trí, người kế vị Đức cha Stêphanô Cuénot Thể, đã từ Pháp đến Sài Gòn và từ Sài Gòn cập bến Kim Bồng, Tam Quan, Bình Định vào ngày 14 tháng 7 năm 1865, ngài đến ở tại Gia Hựu vài năm rồi về Làng Sông. Ngày 26 tháng 10 năm 1879, Đức cha Luy Galibert Lợi được tấn phong Giám mục tại Gò Thị nhưng vẫn đặt Tòa Giám mục tại Làng Sông như vị tiền nhiệm.

Từ năm 1878 đến năm 1884, dưới thời cha Panis Ngãi làm cha sở, giáo xứ Gò Thị có thêm hai giáo họ mới là Phụng Sơn và An Hoà. Lúc bấy giờ tổng số giáo hữu lên đến gần 4.000 người trong 21 giáo điểm.[3] Vì số giáo hữu tăng, nên Xóm Nam cùng với Xóm Bắc, Vĩnh An, Vĩnh Minh, Vĩnh Thạnh được tách ra làm thành giáo xứ Xóm Nam, tức Nam Bình ngày nay.

Nhưng chỉ ít lâu sau, giáo xứ Gò Thị cũng như toàn giáo phận lại phải trải qua một cơn bách hại nặng nề khủng khiếp trong biến cố Văn Thân năm 1885 khiến các giáo hữu phải chạy xuống Qui Nhơn lánh nạn cho đến tháng 7 năm 1887 mới có thể trở về quê sinh sống. Giáo xứ Gò Thị lúc này chỉ còn 1.500 người, một số đã nhập tịch giáo phận Sài Gòn, một số khác định cư tại nhiều họ đạo thuộc tỉnh Phan Thiết.

Nhưng giáo xứ Gò Thị lại phục hồi nhanh chóng. Những họ đạo cũ như Gò Thị, Gò Dài, Xuân Phong, Mỹ Cang, đều tăng số giáo hữu hơn năm 1885. Từ năm 1890 đến năm 1905, giáo xứ Gò Thị lại có thêm nhiều giáo họ mới, như Lục Trung, Lục Lễ, Vinh Quang, Phước Thiện, Bảo An, Tân Thành, Lạc Điền và An Lợi với tổng số giáo hữu là 2989 người.[4] Tuy nhiên theo thống kê năm 1909 –1910 thì Gò Thị có 1.657 tín hữu trong 06 giáo họ.[5] Có lẽ thời điểm nầy một số giáo họ được cắt chia cho Nam Bình, theo bản thống kê nầy Nam Bình có 14 giáo họ. Thống kê năm 1917-1918 Gò Thị có 2.407 tín hữu trong 11 giáo họ ; Nam Bình có 1.440 tín hữu trong 09 giáo họ.

Từ năm 1905 đến năm 1945, nhiều nhà thờ và cơ sở tôn giáo đã lần lượt được xây mới hoặc xây lại kiên cố như để khẳng định tình thương quan phòng bất biến của Thiên Chúa với sự tồn tại vững chắc của Giáo Hội trên vùng đất vừa mới trải qua nhiều thử thách đức tin này: Nhà thờ Gò Thị (1922) (trước đó vào năm 1864 – 1866 cha Bossard đã xây dựng nhà thờ Gò Thị,[6] năm 1897 lúc cha Vivier làm cha sở có thánh lễ trọng thể làm phép nhà thờ mới Gò Thị, nhà thờ trung tâm của cả vùng do cha xây dựng[7]), nhà thờ Phước Thiện (1940), nhà thờ Gò Dài (1941), cơ sở nhà chung, nhà mồ côi. Nhà mồ côi Gò Thị là một cơ sở từ thiện có gốc gác từ thời Đức cha Cuénot Thể, được tái thiết sau năm 1871 nhằm đáp ứng nhu cầu cho nhiều trẻ mồ côi trong vùng.[8] Cha Salomez đã làm giám đốc cơ sở nầy từ 1904 – 1906.(…)

 

[1] ADRIEN LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchine, Paris 2000, T.II, trang 189.
[2] ADRIEN LAUNAY, sđd., T.III, trang 17.
[3] Mgr Van Camelbeke, Rapport 1882.
[4] Mgr Grangeon, Rapport 1905 ; Mm. 10/1919, p.139
[5] Mm. No.69,11/1910, p.90
[6] Notic biographique de Bossard ; R.A.E. 1881
[7] Rapport 1897
[8] Rapport 1881
II – Tác phẩm “Vị Tử Đạo người Bélieu,  Étienne – Théodore CUENOT,
                             Giám Mục Thừa Sai (1802 -1861)”
                                   của  Jean THIÉBAUD (1988).

 

MỘT CUỘC KHỞI HÀNH MỚI

(tiếp theo)

 

  1. Hội nghị ở Gò-thị (Bình Định) do Đức Giám Mục Cuenot triệu tập đánh dấu một bước khởi hành mới đối với giáo phận Nam Kỳ. Giám Mục đã lợi dụng một sự ngừng tay trong cuộc bắt đạo: các quan lại tỏ ra tởm lợm để tiếp tục cuộc sát sinh đó. Về phía các thừa sai, họ nhận thấy một sự cởi mở lớn hơn của lương dân đối với đức tin và sự chín chắn nơi người Kytô hữu. Cộng đồng Kytô giáo ở đây đã được rèn luyện bởi mười năm chiến đấu. Và chiến thật của GM Cuenot thật rõ ràng: không rung rẩy ẩn mình nhưng tiến bước không sợ sệt để công khai loan báo đức tin. Mặc dù từ được Ngài sử dụng có vẻ nhập nhằng: “Tinh thần tuyển mộ (Tân Tòng) đã trở nên thói quen của tân tòng đến độ được xem như một điều mà mọi tín hữu phải thực hành nếu muốn đẹp lòng Chúa”. Trong những lần dạy dỗ công khai hoặc riêng tư, giám mục luôn trở về với điểm này. Nhưng ai vì bị tra tấn mà xuất giáo, nếu muốn chuộc lại những yếu đuối của mình, sẽ nhận đưa một vài người lương nhập đạo làm việc đền tội. Mỗi tân tòng “đóng góp” đưa người khác nhập đạo hoặc rửa tội cho các em bé hấp hối chết. Một bằng khen đưa đẩy các họ đạo thi nhau đưa người trở lại đạo. Đức Giám Mục đã xin Tòa Thánh ban cho một ơn đại xá cho ai đã đóng góp đưa người lương trở lại đạo hoặc rửa tội cho mười trẻ em ngáp chết. Mọi phương tiện đã được Ngài vận dụng để tăng trưởng một cộng đồng đang tàn lụi. Đúng ra năm 1841 giáo phận Nam Kỳ bao gồm 80.000 bổn đạo nghĩa là so với năm 1830, đã tăng 15.000 người, chưa kể đã có một số chết trẻ do khí hậu, ôn dịch hoặc tử đạo. Hàng giáo phẩm năm 1841 bao gồm một giám mục đại diện Tông tòa, 7 thừa sai và 30 linh mục bản xứ.

Cái chết của GM Tabert ngày 31.7.1840 đã trao cho GM Cuenot trọng trách của một đại diện Tông Tòa. Để chuẩn bị cho Công nghị Gò-thị (Synode = cùng đồng hành), Ngài theo gương một vị giám mục đàn anh, Đức GM Gabriel Dufresse tử đạo bên Trung Quốc năm 1815. Có nhiều điều tương tự trong cách cai quản của hai vị mục tử. Năm 1803, ở Setchoan, Giám Mục Dufresse đã triệu tập hội nghị (14 linh mục) “để quy định những điều chính yếu chung quanh việc ban phát bí tích và cách hành xử của các thừa sai”. Năm 1822, Roma đã khen ngợi hội nghị đó và giới thiệu cho các thừa sai làm theo. Kéo dài các khóa họp là điều rất nguy hiểm, nên hội nghị chỉ đề ra những vấn đề mục vụ cấp bách nhất: các bí tích (ví dụ: phép rửa cho lương dân, việc hứa hôn của trẻ em từ bụng mẹ giữa hai gia đình theo tập tục của người Trung Quốc…), đời sống cá nhân của linh mục (đời sống cầu nguyện, sự dè dặt cần gìn giữ đối với bổn đạo, đặc biệt đối với phụ nữ, phải tính đến cả những nghi ngờ cùng những vu khống được dư luận phổ biến…), việc chấp nhận một con đường trung dung để áp dụng các nguyên tắc luân lý.

GM Cuenot lấy lại lược đồ đó. Đọc lại một vài kết luận của Công Đồng Gò-Thị, quả không phải là không lý thú: chúng định vị cho GM Cuenot trong hoạt động mục vụ của mình vào thời đó:

– Nếu một người lương xin gia nhập đức tin, phải tiếp nhận người ấy một cách nhân hậu, hỏi han về những nguyên nhân đưa tới sự trở lại, thăm dò tâm trạng của đương sự, và nếu xét là thuận lợi, có thể đưa vào số dự tòng, dạy dỗ cho biết đạo lý và đời sống kytô giáo dựa vào những ai có trách nhiệm lo việc ấy. Nhưng đừng làm họ nản chí vì phải chờ đợi quá lâu.

– Có thể cho rửa tội, hoặc các trẻ em đã trưởng thành khi chúng yêu cầu, thậm chí ngay cả khi cha mẹ chống đối, hoặc một người vợ ngoại đạo với điều kiện là bà này có khả năng sống một đời sống Ky-tô giáo với người chồng chưa trở lại và hứa sẽ dạy dỗ con cái theo những nguyên tắc đức tin trong chừng mực đức thận trọng có thể cho phép.

– Nói chung không nên kéo dài thử thách đối với những người dự tòng hơn 40 ngày, sợ họ nản chí và tước đi của họ những ân sủng rất dồi dào của các bí tích. Chỉ có thể kéo dài một năm đối với những người ương ngạnh, vụ lợi, những ai, khi bị bách hại có thể thiếu vững vàng và kiên trì.

– Phải hết sức kín đáo khi nhận rửa tội cho các thanh niên, nhất là khi họ giàu có, và học đạo để lấy vợ đạo. Kinh nghiệm cho thấy là họ không bền đỗ. Do đó cần thử thách lâu hơn. Và nếu đó là những người con cả, có nhiệm vụ lo việc thờ cúng ông bà cùng hương hoa, thì chỉ nên chấp thuận sau khi họ đã từ bỏ các tài sản ấy.

– Trong trường hợp hoài nghi về chủ ý ngay lành của những thanh niên đó, thì tốt hơn cất đi cho người chồng tương lai sự ngăn cản vì lý do khác đạo, nếu có những lý do đầy đủ để làm như vậy, điều mà các bề trên được hỏi ý kiến, sẽ xét liệu.

– Để có thể tạo điều kiện cho một số trẻ em ngoại đạo đang hấp hối chết, được ơn cứu rỗi đông hơn, cần lựa chọn trong mỗi họ đạo những phụ nữ nhân đức biết cách rửa tội và nghệ thuật đỡ đẻ, cho phép họ len lỏi vào trong các gia đình và cũng trong mục đích đó trong các nơi công cộng (bệnh viện) cần có những người nam người nữ được mọi người tin cẩn với tư cách là y sĩ, biết rõ “bệnh” trẻ em.

– Chúng tôi dứt khoát chỉ thị cho tất cả những ai thuộc quyền chúng tôi coi sóc, phải loại trừ khỏi việc tế tự, bất cứ điều gì mang vết tích của bốn con vật dị đoan: rồng, sư tử, rùa và loan phượng được gán cho một quyền phép nào đó, và hình tượng được dùng để trang hoàng chùa chiền và các ngôi mộ tổ tiên…

– Chúng tôi cho rằng mỗi năm vào ngày 2.11 tất cả các linh mục coi sóc các linh hồn nên long trọng dâng một thánh lễ cho các người thuộc Hội Truyền Bá Đức Tin đã qua đời, nếu có thể được.

– Hỏi han những tội nhân tùy nhu cầu, tuổi tác, sự dốt nát, nhút nhát của họ, ân cần nhưng thận trọng thậm chí ngay cả khi họ không có yêu cầu gặp linh mục, cũng đã không sống theo đạo, vì có thể phỏng đoán rằng trong hiểm nguy bị sa hỏa ngục, họ muốn trốn tránh bằng mọi cách.

– Hãy ban những việc đền tội thật sự có khả năng chữa trị ví dụ thăm viếng bệnh nhân, bỏ một chuyến dạo chơi, nhịn một thứ xa xỉ nào như thuốc lá, trầu, ăn chay một ngày nào, đọc một kinh gì tay dang ra theo hình thánh giá, hoặc quỳ gối, đọc đoạn sách nào đó, vv…

– Cố gắng nhận ra những thanh niên sốt sắng, nhân đức và tài năng, có khiếu và ưa thích học hành để tăng thêm số chủng sinh…nhưng nên đề phòng những thanh niên tự ý đến xin gia nhập hay bị ngờ vực họ trốn quân địch, công việc nặng nhọc hoặc nếp sống nghèo khổ.

– Cố gắng đòi cho được tiền thách cưới của chàng rể tương lai đối với cha mẹ nhà gái [[1]] không quá cao. Nếu lấy lễ nặng quá phải hoãn lại ngày cưới đôi khi rất tai hại.

– Cấm các linh mục lo về trồng trọt, săn bắn, tham gia bất cứ trò chơi nào. Tất cả những việc đó không thích hợp với những người có chức thánh. Chúng có thể chi phối công việc của họ và làm cho nhiều người vấp phạm.

– Vì yêu đức nghèo khó, họ phải bằng lòng với cái ăn, cái mặc, và tránh trở nên gánh nặng cho các tín hữu: hãy tha cho họ những gì mà nhu cầu không đòi buộc, tất cả những gì vượt ra ngoài đức tiết độ, hoặc là quà cáp, hoặc là tiệc tùng.

-Trong những lần thăm viếng các xứ đạo, mỗi ngày họ phải tụ tập tín hữu mà dạy dỗ. Hình thức dạy bổn đạo là lợi ích hơn cả cho những đầu óc thất học.

-Buộc không nên làm cớ vấp phạm cho bất cứ ai, họ phải tránh ngay cả hiện tượng điều ác xấu. Trong các lần kinh lý, họ hãy tránh cả sự chào hỏi của phụ nữ, không có chồng cùng đi.

– Mỗi năm họ sẽ báo cáo về sự cai quản của mình bằng cách trả lời các câu hỏi mà Công Đồng Setchoan đã ấn định.

Khi đọc những điều khoản trên, chúng ta hơi ngạc nhiên về tầm quan trọng dành cho kỷ cương bên trong Giáo Họi và hiểu được sự cởi mở mà Công Đồng Vatican II đã đề nghị. Tư duy thần học ở Châu Á rõ là mới mẻ, nhưng phát triển nhanh chóng. Đi xa hơn sự thích nghi, các thần học gia toan nối lại nhịp cầu đối thoại với các tôn giáo ngoài Kytô giáo. Đức Kitô là Trung gian duy nhất nhưng các Kytô hữu phải “lấy làm sung sướng và kính cẩn mà khám phá ra những hạt giống Lời Chúa đang tiềm ẩn trong họ”. (Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, số 11).

Công Đồng Gò-Thị đã diễn ra mà không có việc gì rắc rối xảy đến, nhờ vào sự ân cần trung thành của các Kytô hữu. “May phước, như Lm Miche, Giám Mục tương lai của Cam-bốt đã viết, là không cần thường xuyên tái diễn lại những chuyện phi thường như vậy, vì chúng ta sẽ không bắt đầu lại mà không hề hấn gì, ngoài một sự quan phòng hết sức đặc biệt”. Một bức thư chung đã được gửi đến cho tất cả các cộng đồng. Ba tháng sau Công Đồng Gò-Thị, vào tháng 8 năm 1841, Đức Giám Mục Cuenot phong Giám Mục cho Lm Đominicô Lefebvre , là Giám Mục phụ tá với quyền kế vị của Ngài.

Năm đó kết thúc mà không gặp nguy hiểm, như bức thư Ngài gửi cho “Bố và cô rất thân yêu” đã là bằng chứng:

“Cuộc bách hại tiếp tục nhưng ít ác liệt hơn thời gian qua. Ở Nam Kỳ chúng con còn 3 vị thừa sai đang ngồi tù, cũng có ba người gia trưởng đang ở tù và trong ngục tối đã 2 năm nay. Người ta đã hơn nghìn lần đề nghị trả tự do cho họ, nếu họ chịu giẫm lên Thập giá nhưng họ đã từ chối và yêu cầu các vua chặt đầu họ hơn: họ không ước mơ điều gì hơn là chết cho Thiên Chúa và Đạo thánh. Những người cha gia đình này, có vợ có con, những người Nam Kỳ này, gần như chưa văn minh, ngày kia chẳng làm cho những người cha gia đình bên Pháp hổ thẹn đó sao, khi những người này ngại ngùng phải chịu đựng một cái gì cho Chúa. Chúng con cũng còn một linh mục và một người cha gia đình khác cũng thuộc đơn vị truyền giáo ở đây đang ngồi tù ở Bắc kỳ, bị bắt năm ngoái cùng với vị thừa sai mà họ đem tới cho chúng con. Họ đau khổ nhiều…họ bị án tử hình, nhưng ngày hành quyết được hoãn lại. Có lẽ Bố và cô tưởng rằng con đang rũ tù hoặc đã bị tử đạo cũng nên, nhưng con không xứng đáng lãnh một ân huệ lớn lao như thế. Trước đợt bách hại, chúng con tất cả là mười một thừa sai ở Nam Kỳ; vậy mà tất cả đã đi vào đời sống vĩnh cửu, năm vị bằng tử đạo, bốn qua cái chết, một vị có sống nhưng ở ngoài nước, và còn mỗi một mình con trên chiến trường. Sức khỏe con không tốt lắm, vì con nhiều việc quá, nhưng con rất bằng lòng, và con không đổi vị trí của mình lấy ngai vàng của cả thế giới. Những người ngoại đạo bắt đầu trở lại; con hy vọng sẽ rửa tội từ bốn đến năm trăm ở đây và các linh mục cũng vậy, ít nhiều gì. Dân ngoại không khó lòng trở lại, dễ hơn là phần lớn các người tội lỗi bên Pháp. Bố và cô đừng quên rằng chúng ta đã hẹn gặp lại nhau ở trên trời. Vĩnh biệt. Cầu cho con”.

Cũng năm ấy, năm 1841, Đức Giám Mục Cuenot gửi đến “Thánh Bộ truyền giáo” một bản phúc trình chi tiết về toàn bộ công cuộc truyền giáo. Đó là cách lối duy nhất để giữ liên lạc với trung tâm Công Giáo, vì không thể đi ra khỏi nước được. Một vài đoạn trích cũng đủ đem lại một cái nhìn tổng quát về trách nhiệm mục vụ của vị Giám Mục:

“Tất cả phần lãnh thổ Nam Kỳ có người công giáo, lại giáp giới với biển, cách nào để có thể tiếp xúc với toàn thể bằng đường biển.

“Miền Trung và miền Bắc Nam Kỳ sẽ chết đói nếu không có sự cứu viện của Nam Kỳ, nước Cam-Bốt, vương quốc Ciampa bao gồm một tỉnh là Bình Thuận, và những dãy núi mà dân cư là những người còn ở tình trạng bản khai. Nước Cam-Bốt, phần thì thuộc nước An-Nam, phần thuộc Xiêm và phần thì thuộc các tướng độc lập. Cũng vậy các dãy núi đầy rừng rú: một phần là của vua Nam Kỳ, còn lại là của các hoàng tử khác nhau.

“Nam Kỳ bao gồm 15 tỉnh. Không có thủ phủ nào trong giáo phận ngoài Huế. Ở miền Tây, địa phận giáp giới với nước Xiêm, về phía này, không có biên giới rõ rệt.

“Số bổn đạo là khoảng 80.000, mà ở Cam-Bốt thì chỉ có 300 mà thôi (trên 8 triệu dân). Họ bị bách hại từ năm 1833. Chúng tôi thiếu thầy dạy chữ, và trong số bổn đạo không có ai để lo cho giới trẻ. Cuộc bách hại đã giản tán những người lo cho chúng trước đây.

“Các linh mục bản xứ, khi đi kinh lý thì được bổn đạo nuôi nấng. Nhưng còn về những chỉ tiêu khác họ tự mình trang trải nhờ tiền lễ. Còn các linh mục người Âu, họ sống nhờ trợ cấp mà Hội Thừa Sai Pa-ris gửi cho họ hằng năm.

“Cuộc bắt đạo đã gây tai hại đủ loại. Tuy nhiên máu các tử đạo hình như đã hứa hẹn nhiều mầm giống quý. Nhưng chúng tôi thiếu thợ người Âu và những thầy giảng xứng danh hiệu ấy. Dự án của tôi là thành lập thêm để họ hăng hái lo cho dân ngoại trở lại và dạy các dự tòng. Không phải vì tôi muốn xóa sổ thể chế cũ. Chức năng của những người này (trùm biện) ở trong các xứ đạo, dù ít hữu ích hơn nhưng cũng rất quan trọng để bảo vệ trật tự bên ngoài.

“Thời gian vẫn không làm tôi thay đổi ý kiến về việc phân chia giáo phận làm đôi. Hiện nay thì chưa phải lúc, phần vì chưa có thừa sai người Âu ở miền nam Nam Kỳ, phần thì chiến tranh đang tàn phá ở đó cũng như ở Cam-Bốt.

Từ bảng hoạt động năm 1841, chúng ta hãy ghi lại vài con số:

– 190 người lớn chịu phép rửa tội.
– 355 dự tòng.
– 407 hôn phối.
– 20.000 người xưng tội hằng năm

 [1] Chi tiết này không sát với phong tục Việt-Nam. “Chính nhà trai hỏi nhà gái thách cưới những lễ vật nào. Nhà trai liệu lo nỗi thì mới chọn ngày cưới, nếu nhà gái lấy lễ nặng quá, nhà trai xin bớt đi ít nhiều nhà gái không nghe, thì có khi hoãn việc lại”. Trong “phong tục Việt-Nam của Phan-Kế-Bính, trg 51.

(Còn tiếp)

GPKONTUM (21/04/2018) KONTUM

 

Advertisements
%d bloggers like this: