Home > GiáoPhận, Giới Thiệu, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

28/04/2018

Vị Tử Đạo người Bélieu
Étienne – Théodore CUENOT
Giám Mục Thừa Sai
1802 -1861
Jean THIÉBAUD
1988

 

 

 

(Tiếp theo)
NHÀ GIÁO DỤC ĐỨC TIN

 

Trong sắc lệnh về nhiệm vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội, Công Đồng Vatican II nhấn mạnh về chức năng dạy dỗ mà Giáo Hội chờ đợi nơi họ: “Các Giám Mục phải loan báo cho mọi người biết Tin Mừng của Đức Kitô, một nhiệm vụ trổi vượt trên các chức vụ chính yếu của các Ngài, bằng cách nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mời gọi họ chấp nhận đức tin hoặc làm cho họ vững mạnh trong đức tin sống động.” (số 12). Lời lẽ trên tóm gọn sự ưu tiên mà GM Cuenot dành cho mục vụ. “Hãy đi thu nạp những môn đệ” đó là lệnh của Đức Kitô được thánh sử Mat-thêu đặc biệt ghi nhận.

Cho công việc đó, GM Cuenot là một người ngốn việc. Một cộng sự viên của Ngài, Lm Miche, từ nhà tù nơi bị giam giữ đã viết cho Ngài ngày 28.9.1842: “Con van xin Đức Cha, vì lợi ích của công cuộc truyền giáo, Đức Cha hãy bớt thức đêm, và chăm sóc cho sức khỏe của mình một tí, sự cứu rỗi của hàng nghìn linh hồn tùy thuộc vào đó.”

Chúng ta hãy lắng nghe từ miệng vị Giám Mục bí quyết để loan báo đức tin:

“Hãy lo sao cho các vị thừa sai trẻ đừng tưởng tượng là phải hành xử với người Nam Kỳ hoặc với ai khác một cách khô khốc, thiếu tín nhiệm, tự cao tự đại. Làm vậy họ sẽ là những con số không. Xử với người làm sao, người xử với ta làm vậy. Nếu muốn được người Nam Kỳ tín nhiệm thì phải tỏ ra tín nhiệm họ. Nếu muốn được họ quý mến, phải quý mến họ, nếu coi họ như thứ tiện dân, một giới đáng khinh bỉ, thì phải chịu họ ghét bỏ. Ước gì các vị ấy cũng là những con người của Thiên Chúa. Kiến thức quả là tốt thậm chí cần thiết nữa, nhưng trước hết họ cần một lòng nhân đức vững vàng để phục vụ.” (Thư gửi về Hội Thừa Sai Paris)

Bước đầu của việc loan báo đức tin là lớp dự tòng (dự bị tòng giáo). Bản phúc trình năm 1843 cho thấy một tổ chức thích hợp cho một nước có rất ít linh mục thường trú. Thầy giảng được chia thành ba loại. Tại chỗ có “trùm, câu biện” (khoản 2.000). “Họ là những người cha gia đình có chỗ ở ổn định. Chức năng của họ là giữ gìn trật tự, hòa giải khi có tranh chấp, bất đồng, chủ tọa các buổi họp mặt, rửa tội cho trẻ sơ sinh, dự các hôn phối, mời linh mục cho các bệnh nhân nguy ngập”.

Loại thứ hai là các thầy giảng lưu động đã được đào tạo chút đỉnh: họ thường đi theo vị thừa sai, có khả năng dạy dỗ bổn đạo, chuẩn bị cho họ lãnh các bí tích.

Trên hết, có khoản 20 thầy giảng cấp cao (ngày nay người ta sẽ nói là họ có theo học về mục vụ) “đó là những con người chín chắn, quen đốp chát tranh luận với lương dân, có khả năng đào tạo người khác; chính nhờ họ mà phần lớn đức tin tiến bộ”.

Nhiều thầy giảng đã mất mạng vì sự dấn thân truyền bá Lời Chúa.

Để chuẩn bị lãnh nhận phép rửa tội, người dự tòng phải theo dự 40 ngày tĩnh tâm “trong thời gian đó họ không được làm một việc gì đó cả, chỉ nghe giảng, và suốt thời gian tĩnh tâm họ cần được nuôi ăn, cần cất hoặc mướn chòi cho họ ở, vì những nhóm người từ 10 đến 50, nối tiếp nhau không ngừng một phần lớn trong năm”. Các người muốn được rửa tội, thoạt đầu họ học bổn và học kinh. Hai hoặc ba lần trong ngày, thầy giảng hoặc vị  linh mục giải thích kinh bổn cho họ, hoặc làm cho họ mộ mến đạo.

“Chưa hết đâu, GM Cuenot nói tiếp: chúng tôi còn phải giúp các Tân Tòng của chúng tôi ra khỏi môi trường và gia đình của mình. Nếu không, thì sẽ đặt họ trước nguy cơ rơi trở lại vào tà giáo. Do đó phải giúp họ đến sống giữa bổn đạo, nghĩa là phải cung cấp cho họ một mái nhà tranh (7 đến 8 F. năm 1841). Chúng tôi đã thấy cần mua lại những khoảng đất trống để tiếp đón những tân tòng nhằm tránh những phiền nhiễu cùng những dị đoan từ phía lương dân”.

Thế đấy, vào thời kỳ loan báo Tin Mừng cho một thế giới hoàn toàn xa lạ với Kitô giáo, (trên 100 người chỉ có một Kytô hữu), đức thận trọng đòi phải có những cù lao sống đạo.

Để lo lường được sự nặng nề quấy nhiễu từ phía môi trường, chúng ta hãy lắng nghe chứng từ của một vị thừa sai, LM Galy, bị giam ở Huế (tháng 12 năm 1841).

“Những người đứng đầu làng, xóm, lại bêu rêu tôi như một con thú lạ, để cho người đến xem chửi bới tôi, nhăn nhó nhìn tôi…Tôi là một thứ đồ vật kỳ quái không hơn không kém, gây sợ hãi. Tôi chỉ cần bước tới cửa, dù chẳng ngước mắt lên, họ đùn đẩy nhau chạy ra ngoài đường, nhanh nhẹn như thể mà đuổi họ. Tôi đã thấy những phụ nữ khi trông thấy tôi, họ chạy trốn sau lưng binh lính la hét sợ hãi, người ta đã gây một nỗi kinh hoàng nơi lương dân đối với những “người Da-tô” tội nghiệp.

Những người canh ngục tống tiền tôi, lúc nào cũng tiền. Nhưng tôi không có”.

– “Ông là người có đạo, ông muốn bao nhiêu tiền chẳng có, vì người có đạo yêu thương, giúp đỡ và đùm bọc nhau.”

Để có được tình trạng của giáo đoàn mới chớm này, hạt cải vừa gieo, phải liên tưởng đến những giáo đoàn tiên khởi trong thế giới La-Mã, nơi mà nhiều nghành nghề không thích hợp nếu muốn trung thành với đức tin Kytô giáo: “Rất có thể là dấu Thánh Giá, ghi nhanh trên trán, trên ngực và hai tay, ngoài cử chỉ phụng vụ, còn là một phương tiện để nhận ra nhau”[1]

Ở Nam Kỳ mỗi năm người ta rửa tội cho từ 1.000 đến 1.500 người lớn (trước 1840 thì chưa đầy 100 mỗi năm) và đó là những ơn trở lại nghiêm túc vì lúc ấy là việc làm hết sức nguy hiểm: thường các thầy giảng mang những vết tích bị tra tấn.

Các bản phúc trình của GM Cuenot về việc sử dụng tiền bạc cũng cho thấy một cơ chế chung cho các giáo đoàn Á Châu: việc chuộc các nô lệ và các viện mồ côi. Đó là một yêu cầu của Tin Mừng là Tin Mừng của Tình Yêu Thiên Chúa trước hết được bày tỏ cho những người nghèo nhất.

GM Cuenot và GM Forbin-Janson thư từ cho nhau. Năm 1837 Giám Mục tỉnh Nancy này do loạn lạc năm 1830 đã phải rời khỏi Nancy, đi truyền giáo ở Bắc Mỹ và đã biết được một tệ đoan thời đó: tội giết trẻ em. Ở Trung Quốc đặc biệt, sự kiện đó rất phổ biến năm 1775 đến độ Lm Moye (người Lorraine) thuộc Hội Thừa Sai đã phải thành lập ở Setchoan “Hội các Thiên Thần” để rửa tội cho các em bé đang ngáp chết. Năm 1843, GM Forbin-Janson rửa tội cho trẻ em bị bỏ rơi. Đi xa hơn, Hội này mời gọi trẻ em Kytô giáo trở thành tông đồ của trẻ em các nước ngoại giáo. Hội rất phồn thịnh mang tên là “Tuổi thơ thừa sai”.

Chúng ta hãy để cho GM Cuenot nói lên trong giáo phận của Ngài ra sao, năm 1845. Hội này cũng có ở Nam Kỳ, thậm chí có cả những vị tử đạo, trước khi ra đời ở bên Âu:

“Tôi vừa nói là tôi không muốn bỏ ra những khoản tiền lớn để chuộc trẻ em. Nhưng đừng nghĩ là tôi bỏ qua công việc đó. Không đâu! Thậm chí còn coi như là quá quan trọng và tôi quyết tâm không bỏ qua điều gì để xúc tiến. Nhưng trong lúc chờ đợi số trẻ được chuộc chưa thể đông được, hoặc do thiếu cơ sở để tiếp nhận chúng hoặc vì khó khăn để gửi chúng đàng hoàng trong các gia đình công giáo. Cuộc khủng hoảng đã lật ngược dự án của tôi liên quan đến các viện mồ côi. Thay vì có thể tăng thêm con số các viện mồ côi, tôi buộc phải giải tán các em gái mồ côi, được tập trung lại ở Gò-Thị…

Phí tổn để nuôi dưỡng 30 em gái mồ côi sẽ mất khoản 100 đồng. Tuổi của chúng là 14,15,16 tuổi. Mua chúng không tốn kém bao nhiêu. Nếu trẻ chỉ mới 5 tuổi thì mất quá lắm, 2 đồng. Nếu là 10 hoặc 12 tuổi có thể lên 3 hoặc 4 đồng, nhất là nếu đó là bé trai…Đối với vài đứa trong số trẻ mồ côi, thì không mất đồng nào. Chỉ cần lãnh chúng về. Bé sơ sinh, hoặc 1-2 tuổi thường bị cha mẹ đem đi cho. Chúng tôi có một loại trẻ mồ côi ưu tiên cần được chăm sóc, đó là trẻ công giáo mà cái chết của cha mẹ hoặc những lý do nào khác bị bỏ rơi hoàn toàn …” (Sự lượng giá một đứa trẻ bằng tiền không nên làm chúng ta ngạc nhiên: chúng ta hãy nhớ rằng bên Trung Quốc, thế kỷ trước, cha mẹ còn dẫn con cái họ tuổi 10-12 (mang một tấm biển ghi giá bán) ra bán ở chợ.

Một ưu tư khác: những người nô lệ trẻ.

“Tôi ghi việc chuộc lại con cái của những tín hữu, bị bắt để trừ nợ trong một cột chi tiêu khác. Tôi có khoản 2.000 Kytô hữu, Đức Cha Lefebvre viết (Đồng bằng Nam Kỳ) ở trong tình trạng đáng thương đó. Thậm chí họ phải ở như vậy suốt đời. Mỗi năm họ chỉ có thể trả tiền lời, vốn lẫn còn nguyên. Những người tín hữu tội nghiệp ấy mất cả đạo, bản thân họ và cả người thân của họ nữa”.

Một cộng sự viên của GM Cuenot, Lm Miche, mô tả tình trạng của các viện mồ côi trong giáo phận, năm 1845 như sau:

“Nhiều ngôi nhà đã được dựng lên trong mục đích đó và chứa đầy những trẻ vô tội, chúng tìm thấy ở đó, ngoài những trợ giúp cần thiết cho cuộc sống, ân huệ của phép rửa tội, và một nền giáo dục vững chắc sẽ làm cho chúng nhận ra một ngày nào rằng Chúa Quan Phòng đã giật chúng ra khỏi lòng một người mẹ trái luân thường để đặt chúng vào trong vòng tay của một người cha nuôi, dù không bỏ qua những nhu cầu của thể xác, muốn trước hết biến chúng thành những đứa con của Chúa. Hiện nay Đức Cha đang tìm phương tiện dựng lên những bến bình yên thế đó ngay tại nơi trẻ được tiếp nhận.”

Hiện nay 1846, Giám Mục Cuenot viết thư cho Hội Đồng Tư Vấn của Thánh Bộ Đức Tin để xin lỗi về những khoản chi hơi quá nặng:

“Tôi được danh dự gửi về Thánh Bộ sổ sách của năm 1846. “Tiền chi” vượt xa “Tiền thu”. Thế mà chúng tôi chưa xoa dịu được bao nhiêu cả, những lần than khốn đốn và đáp lại mọi nhu cầu. Biết bao nhiêu điều thiện chúng tôi buộc phải bỏ qua vì sợ là đè nặng trên cán cân chi tiêu…Tôi sẽ không có lòng biết ơn nếu không nhận ra sự ưu ái của quý vị đối với Hội và vừa Nước Nam Kỳ đặc biệt. Về phía mình tôi sẽ làm hết sức để không trở nên bất xứng…”

 

oo0oo

 

Bản văn của Vatican II đầu chương mời gọi các Giám Mục “làm cho những người đã chịu phép rửa vững mạnh trong đức tin sống động”. Ròng rã trong lịch sử, nền văn hóa Kytô giáo luôn luôn đề ra những sáng kiến mới. Ngày nay nó được tiếp nối bằng “sự huấn luyện thường trực”, được đề nghị cho các Kytô hữu. Chúng ta hãy lưu lại hai điểm trong đó GM Cuenot không ngừng chú ý đến và lưu ý các linh mục.

 SÁCH BÁO

Giám Mục dành một phần lớn thời giờ để dịch sách ra tiếng Việt và luôn có bên cạnh mình một linh mục bản xứ để kiểm tra bản dịch. Không ngừng, Ngài xin Paris gửi sách báo cho Ngài:

Bổn đạo của chúng tôi gần như mất tất cả vật dụng tôn giáo. Cũng vậy, các linh mục đã mất đồ đoàn của mình, chỉ có sách là không mất nhưng mau hư hỏng” (1843)

Cũng năm đó, GM Cuenot đã chi hết một phần sáu tiền trợ cấp hàng năm (4.000 F trên 25.000). Ngài xin phép Thánh Bộ cho tái bản những sách hữu ích: các sách Tin Mừng, Gương Chúa Giêsu, một cuốn tóm lượt Kinh Thánh…cũng cần đến những sách chữ nho được gạn lọc:

“Còn sách chữ nho, cũng là một nhu cầu tái bản vì những người trẻ đến trường đều học chữ nho trong những cuốn sách bằng chữ nho. Trẻ công giáo cần đến những cuốn sách chữ nho được gạn lọc khỏi mê tín dị đoan”.

Còn đối với các linh mục, hằng năm Ngài gửi đến tất cả một chương trình thần học và mục vụ, mà họ phải gửi trả lại các câu giải đáp. Bài vở do Ngài chấm để duy trì giữa các linh mục với nhau sự thống nhất trong áp dụng và kỷ luật.

 CÁC TRƯỜNG HỌC

Các trường học khá nhiều trước năm 1838 bị cuộc bách hại giải tán. Năm 1843, vị Giám Mục âu lo mang nặng sự dốt nát của dân Ngài bây giờ bị phó nộp cho giai cấp các nhà nho:

“Tôi đã nói đến các thanh niên nghèo, cần phải nuôi nấng trong thời gian học giáo lý và thậm chí tôi nghĩ, cả thời tiểu học nữa. Trước cuộc bách hại có những người thiện chí đã thay thế thầy cô giáo đối với họ. Nhưng công việc đó đã bị hoàn toàn bỏ bê và số cha mẹ rất lớn, hoặc vì chểnh mảng, hoặc vì quá nghèo, hoặc vì sợ bị bách hại, đã để cho con cái mình chết gí trong vòng dốt nát. Thuốc chữa sẽ phải là dạy dỗ họ hoặc nhờ thầy dạy họ. Nhưng công việc sẽ tốn kém nhiều…Trong mọi thời, nhu cầu về thầy dạy đều khẩn thiết trên mảnh đất truyền giáo này cũng đã có rồi đó, nhưng còn quá ít. Điều đó là do cha mẹ quá nghèo không thể đóng góp đủ để thuê một thầy giáo, dù với một đồng lương thật khiêm tốn, 70F cũng đủ trong đất nước này”.

Năm 1848, Ngài xin trợ cấp hằng năm 1.000 F đã thành lập một trường nhằm đào tạo “giáo viên”.

“Không có nước nào mà nhu cầu về thầy giáo lại lớn như ở Nam Kỳ. Tìm được cho 10 đến 15 xứ đạo một thầy giáo cho một trường công giáo đã là tốt còn những thầy được theo học trong các trường lương giáo với những cuốn sách đầy mê tín dị đoan và những điều tục tĩu thì không thể dạy trẻ theo lẽ được”.

Để bù vào sự thiếu sót đó, GM Cuenot yêu cầu mỗi linh mục giữ bên cạnh mình 3 đến 4 học sinh, nhất là trong hy vọng đào tạo thành thầy giảng và linh mục ít nhất một trong những trường tí hon đó năm 1854, được coi như là một thành công, đó là công trình của Lm Sohier:

“ Nơi mà cách đây bốn năm, Đức Cha đã gặp Lm Sohier chôn mình trong một góc với 2-3 học sinh, bây giờ một nhà trường được dựng lên không trường nào sánh bì kịp, trong các nước truyền giáo khác. Nơi đó đã đào tạo được linh mục và trong số 40 hoặc 50 học sinh, hiện nay có khoản 10 giáo sĩ”.

Rồi đây chúng ta sẽ thấy trường Pinăng là nơi ẩn trú bình an quý hóa, nơi mà GM Cuenot gửi “học sinh” của mình đến để thoát khỏi cơn bách hại và sau khi đã được chuẩn bị kỹ càng họ sẽ đón nhận chức linh mục.

Đối diện với sự ưu tiên dành cho công cuộc phúc âm hóa, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy GM Cuenot xin miễn chay cho các thừa sai, ngay từ năm 1840:

“Trong những lúc ngừng tay mà cơn bắt đạo chừa lại cho chúng tôi, các thừa sai phải giảng đạo, dạy giáo lý, ngồi tòa mỗi ngày từ sáng đến chiều. Nếu phải ăn chay, họ sẽ rất khó lòng kham nổi công việc đó nhiều ngày liền mà không mắc phải những bệnh nặng, có hại cho các linh hồn và cho công cuộc truyền giáo.”

Việc loan báo đức tin đã là một hình thức tiết chế cho tất cả các người thợ làm việc tông đồ rồi.

 [1] Daniel Rops “Giáo Hội các Tông Đồ và các vị Tử đạo” trang 230

 

(Còn tiếp)
GPKONTUM (28/04/2018) KONTUM
%d bloggers like this: