Home > GiáoPhận, Giới Thiệu, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD

02/05/2018

Vị Tử Đạo người Bélieu
Étienne – Théodore CUENOT
Giám Mục Thừa Sai
1802 -1861
 
Jean THIÉBAUD

 

 

CON NGƯỜI CẦU NGUYỆN

(Tiếp theo)

 

“Ở đây hơn đâu khác, cầu nguyện được cảm nghiệm như là thiết yếu cho cuộc sống của Giáo Hội chúng tôi”. Đoạn văn này trích từ một tài liệu mục vụ cho năm 1987 (?) trong một xứ truyền giáo trẻ, Giám Mục Cuenot sẽ phê chuẩn không ngần ngại. Hơn vào bất cứ thế kỷ nào, công cuộc phúc âm hóa thời Ngài và của Hội Thừa Sai là cho người nghèo, dựa trên những phương tiện nghèo, không cậy vào thân hào điền chủ, vương công hoàng tử nào cả. Nó dựa trên Thiên Chúa.

Giám Mục Cuenot lập lại không ngừng trong các thư từ của Ngài: viết cho gia đình, cho cô thân yêu, Jeanne-Baptiste, nơi cô Ngài đã đón nhận được những yếu tố đầu tiên cho đời sống cầu nguyện của mình, thư cho Lm Charles Cuenot “vị ân nhân thân yêu”, cho các cộng đoàn Fontenelles nơi đó Ngài có 3 người em gái là tu sĩ, cộng đoàn La Compassion mà vị thành lập cũng xuất thân từ Bélieu, Agnès Pagnot. Với những lời khuyên của Thánh Bộ Đức Tin: “Liên kết các tín hữu mọi nước lại, để cùng nhau cầu nguyện cho công cuộc phúc âm hóa”. Đó chính là ý định trước nhất của Pauline Jaricot, tiếp theo sau “Hiệp hội cầu nguyện và làm việc từ thiện cho sự cứu rỗi của lương dân” được Lm Chaumont Hội Thừa Sai Paris, phục hồi lại ngay từ năm 1816.

Giám Mục Cuenot không thuộc loại người dễ bộc lộ chiều sâu tầm khảm của đời sống cầu nguyện cá nhân. Tuy nhiên, vẫn nhận ra được những hằng số: đời sống cầu nguyện và mục vụ nơi ngài chỉ là một. Sau đây, là chứng tá của hai nữ giáo dân trong “án phong thánh” của Ngài. “Agata Thóc đã biết GM Cuenot nhiều, chị đã nấu cơm cho Ngài trong mười hai năm. Mọi người đều ca ngợi con người rất nhân hậu này. Chưa bao giờ nghe ai nói xấu về Ngài. Bà nhấn mạnh về cuộc sống khắc khổ, lòng nhân đức, lòng nhiệt thành của Ngài và cho biết trong điều kiện nào Ngài bị giam giữ.”

“Chị Mađalêna Quyết, người thường gặp Ngài nhắc đến những đức tính của Ngài: khiêm nhường, lòng tốt, sự trang nghiêm, sự kiên trì cầu nguyện và làm việc.”

Một nét khác nổi bật qua thư từ: Sự dâng mình làm của hiến tế, theo gót các thánh tử đạo.

“Suốt thời gian sống ở đường Du Bac, các vị thừa sai tương lai học tập thiết lập mối tương quan giữa việc tử đạo và sự thành lập các giáo đoàn. Đâu có ai trở thành thừa sai để chết tử đạo, nhưng để xây dựng Giáo Hội trong đất nước nơi đó Giáo Hội chưa có mặt.” (Jean Guennou)

Các thánh tử đạo: không một bức thư nào mà Ngài không trích đấng này, vị nọ. Họ không phải là những nhân vật huyền thoại đối với Ngài, nhưng đó là những người nhà thân quen, mà một sớm một chiều đã biến mất sau bức tường nhà giam rồi sau cái chết.

“Nếu tôi thấy lính xuất hiện ở cửa nhà tôi, Ngài viết, trống ngực tôi sẽ đập thình thịch nhưng không phải vì sợ, mà vì vui. Khi mình thấy bạn bè anh em đồng nghiệp lần lượt ra đi, còn mình thì sót lại như một con vật bỏ đi bất xứng, thật là buồn”

Ngay từ năm 1840, sau cái năm bắt đạo khủng khiếp 1838, Ngài đệ đơn lên Tòa Thánh xin được xét và phong thánh cho những vị đã tuyên xưng đức tin. Có 18 tên được nêu lên trong đó có Isidore Gagelin, Joseph Marchand. “Sự chấp thuận này sẽ tăng cường lòng can đảm của tín hữu và an ủi đức tin của họ”, Ngài viết cho Đức Grêgôriô XVI, tiếp đó: “Cho tới nay, con chưa nghe nói về bất cứ phép lạ nào có được nhờ sự cầu bầu của các tôi tớ vinh hiển của Thiên Chúa. Nhưng theo ý con, phải gán cho sự can thiệp của họ bên cạnh Thiên Chúa, con số rất đông những người trở lại trong suốt thời kỳ bắt đạo”.

Để tiến hành đến nơi đến chốn “Vụ án phong thánh”, các cuộc sưu tầm tư liệu rất khó thực hiện: một bức thư rơi vào tay bọn gián điệp chỉ làm cho cuộc bắt đạo trở nên gắt gao hơn. Cuối cùng Ngài đã có thể gửi về Roma những chứng nhận cần thiết, tự tay mình viết về một vài vị tử đạo (215 trang giấy).

Một người thân cận của Ngài làm chứng:

“Chúng ta có thể nói rằng trong những thông tin của mình, Ngài tiến hành với một sự khắt khe về nguyên tắc xứng với Giáo Hoàng Bênê-đi-tô XIV, gạt qua một bên mọi sự kiện Ngài xét là không được chứng minh một cách gắt gao, mọi lời khai về phía chứng nhân nào bị ngờ vực ít nhiều. (Biên niên Sử của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, số 34, tr.302).

Năm 1846, vì không chút nghi ngờ về việc phong thánh trong một tương lai gần, Ngài chuyển về Paris, hài cốt của một vài người trong danh sách: Lm Gagelin, Jacard và người bạn trẻ tuổi của mình, là Tôma Thiện, vì “chúng ta không có nơi nào chắc chắn có thể bảo đảm gìn giữ hài cốt. Sau khi họ được phong thánh, sẽ chuốc lấy nguy cơ bị phạm thượng”.

-oo0oo-

Trinh Nữ Maria được gọi là Nữ Vương các thánh tử đạo. Lòng tôn sùng Đức Maria nơi Giám Mục Cuenot có cách biểu lộ không tầm thường qua 2 sự việc mang tính lịch sử.

Năm 1844, Ngài nhận được một tài liệu về phong trào trở lại lạ lùng chung quanh Đền “Đức Mẹ Toàn Thắng” (Paris 2è). Ngày 3.12.1836, Lm Desgenettes sẵn sàng rời khỏi khu xóm đầy ác cảm này khi nhận được lệnh trời: “Hãy dâng hiến xứ đạo của ngươi cho Trái Tim vẹn sạch rất thánh của Đức Maria, Đấng che chở kẻ có tội.” Thế mà Paris, nước Pháp, cả thế giới chạy đến “Đức Mẹ Toàn Thắng”. Lm Libermann, Mẹ Javoubey sẽ đến giao phó cho Đức Mẹ các xứ truyền giáo Phi Châu. Tại sao lại không giao phó cho Mẹ, xứ Nam Kỳ nhỉ?

Giám Mục Cuenot có quen Lm Desgenettes, trước đây đã từng là Cha sở Hội Thừa Sai từ năm 1822 đến 1832.

Ngài viết thư yêu cầu Lm Desgenettes ghi tên vào Tổng Hội Đức Mẹ Toàn Thắng “xứ truyền giáo Nam Kỳ tội nghiệp này, để xin Đức Mẹ tăng thêm đức tin cho người này và ơn trở lại cho người khác, cho hàng nghìn lương dân.”

Ít lâu sau Ngài viết cho Lm Desgenettes:

“Miền Đông Nam Kỳ đã có 3 tổng hội được kết nạp (500 thành viên ở Gò-Thị). Linh mục người Nam Kỳ bị chặt đầu tại Quảng Nam, ngày 30.8.1845 vì đức tin là một trong những thành viên”.

“Nếu Đức Maria ở với chúng ta, Ngài nói, khi gửi những vị thừa sai đầu tiên đến với người thượng,” sự thành công không còn là điều nghi ngờ nữa.”

Đó cũng là xác tín của Đức Grêgôriô XVI, vị Giáo Hoàng của các xứ truyền giáo. Năm 1844, Ngài hỏi các Giám Mục về đức tin của bổn đạo đối với đặc ân của Đức Mẹ: Vô Nhiễm Nguyên Tội được họ nhìn nhận từ rất lâu đời.

Ngày 14.11.1845, Giám Mục Nam Kỳ trả lời:

“Kính thưa Đức Thánh Cha, nói rằng Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa đã được gìn giữ khỏi tội tổ tông nhờ một đặc ân, lòng sùng kính của tín hữu chưa bao giờ nghi ngờ điều đó cả.

Học thuyết đó ngày càng có ảnh hưởng trong Giáo Hội, nhờ ơn Chúa, đã trở nên vững vàng và phổ biến vào thời chúng ta đến độ mà đã tới lúc có thể khẳng định mà không sợ lầm lẫn, lúc mà Tòa Thánh có thể thánh hiến bằng một lời tuyên bố long trọng, nhờ quyền bất khả ngộ, được chứa đựng trong Lời Chúa…và định nghĩa như một tín điều. Thưa Đức Thánh Cha, con xin mạn phép hiệp lời thỉnh cầu của con với thỉnh nguyện của tất cả các giám Mục khác, có được từ miệng Đức Thánh Cha lời tuyên bố long trọng  ấy.”

Năm 1849, Tân Giáo Hoàng Pie IX đặt lại câu hỏi ấy từ Gaète, nơi Ngài đến ẩn náu: chủ ý của Ngài là xin Đức Mẹ can thiệp để làm lắng dịu những làn sóng khủng khiếp đang ụp xuống trên Giáo Hội.”

Théodore Cuenot rất hiểu điều đó.

Triều đại của Pie IX sẽ mở ra một thời kỳ canh tân cho các xứ truyền giáo.

Nếu chúng ta tìm phát hiện ra nơi Giám Mục Cuenot linh hồn của hoạt động tông đồ của Ngài có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy trong các thư mục của Phaolô.

“Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi” [1].
“Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”[2]

Trong các thư của mình Phaolô sử dụng 36 lần từ “cứu độ” “được cứu” và ở “Nhà Tĩnh Tâm” Lm Receveur đã chia sẻ với môn đệ mình, lòng yêu mến thánh Phaolô với “những tư tưởng hướng về vĩnh cữu”.

Giám Mục Cuenot đã luôn trung thành với tinh thần của các linh mục ở “Nhà Tĩnh Tâm” đã mở cửa đón Ngài năm 1823.

[1] 1 Tm 1,15
[2] 2 Tm 4,2

(Còn tiếp)
GPKONTUM (02/05/2018) KONTUM

Advertisements
%d bloggers like this: