Home > Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

06/05/2018

Vị Tử Đạo người Bélieu
Étienne – Théodore CUENOT
Giám Mục Thừa Sai
1802 -1861
 
Jean THIÉBAUD
1988

 

NGƯỜI ĐỀ XƯỚNG
MỘT HÀNG GIÁO PHẨM ĐỊA PHƯƠNG

(Tiếp theo)

 

Thông tư của Thánh Bộ Truyền Giáo gửi các “Giám Mục Tông Tòa” đầu tiên là “không tiếc bất cứ công lao khó nhọc nào để dạy dỗ người bản xứ và đào tạo một vài người để trở thành linh mục”. Đó cũng là một trong những mục tiêu đặc biệt mà Hội Thừa Sai đề ra khi được thành lập. Chuẩn bị một hàng giáo phẩm bản xứ, đó là phương tiện duy nhất bảo đảm cho tương lai các giáo đoàn ở Châu Á.

Để đạt được mục tiêu đó, cần phải xây dựng tại chỗ một chủng viện cho các xứ truyền giáo ở Châu Á. Năm 1668, một trong những linh mục đầu tiên được chủng viện Ayuthia đào tạo (thủ đô Nước Xiêm, Thái Lan bây giờ) là Lm Giuse Trang, một thầy giảng người Nam Kỳ 28 tuổi, người đã đau khổ nhiều vì đức tin.

Bị chiến tranh và các cuộc bắt đạo buộc phải dời chỗ 14 lần “chủng viện chung” nay cuối cùng đã tìm được một bến bình yên ở đảo Pinang, trong quần đảo Malaisia, được nhường lại cho người Anh năm 1786. Chính Lm Claude Létondal, một người xuất thân từ Franche-Comté đã tìm liên lạc với họ để xin đặt chủng viện. Cho đến chết, Lm Létondal đã cật lực làm việc để cho chủng viện này sống còn. Số chủng sinh là 25 năm 1822 và 154 năm 1848.

Có thể nói là Théodre Cuenot hơn ai khác đã sốt sắng hưởng ứng gửi “học sinh” của mình đến Pinang để nhắm đến chức linh mục. Vì nhu cầu: các chủng sinh trong thời gian học hành phải được tránh xa cuộc bách hại. Vì thận trọng: Ngài biết rằng một linh mục bản xứ đi đứng dễ dàng, trong khi mà một bộ mặt “tây” rất dễ bị phát hiện. Vì công cuộc truyền giáo: Ngài nhìn thấy ở đó tương lai của Giáo Hội địa phương.

Chúng ta còn nhớ, Tháng 3 năm 1835, Étienne Cuenot chạy trốn sang Xiêm và sau một cuộc vượt biên rất nguy hiểm, đã gửi đến Pinang “7 chú học sinh, những người từ 30 đến 40 tuổi, nhân đức, nhưng không thạo tiếng La-tinh”. Mỗi năm, Ngài tiếp tục gửi đến Pinang những học sinh người Nam Kỳ, và đã thắc lưng buộc bụng vì họ, Ngài viết cho vị Giám Đốc Chủng viện “Nếu các khoản trợ cấp dành cho Chủng viện không đủ để nuôi ăn cho các học sinh, chúng tôi sẽ tiếp viện. Tôi đã bàn đến chuyện này với anh em thừa sai.Tôi chấp nhận nếu cần, sẽ thắt lưng buộc bụng để nuôi những học sinh của chúng tôi. Bổn đạo người Nam Kỳ, dù nghèo mạt kiếp, sẽ không từ chối san sẻ cơm gạo với chúng tôi.”

Năm 1839, có 39 học sinh mới được gửi đến Pinang. Có thiếu chỗ không? Ngài viết cho Giám Đốc:

“Có một cách sữa chữa, đó là xây cất thêm. Nếu thiếu phương tiện, các anh hãy chạy đến cầu cứu Hội Thừa Sai Paris, họ sẽ thương đến một ngôi nhà đang sụp đổ.”

Hai mươi năm sau, thư gửi Ban Tư Vấn Thánh Bộ Đức Tin:

“…Hơn 20 năm kinh nghiệm, chứng minh rằng phương tiện duy nhất để cho đạo phát triển ở Nam Kỳ, là tăng cường hàng ngũ các linh mục bản xứ…ơn gọi không thiếu: nhiều thanh niên chuẩn bị và chúng tôi chỉ nhận chưa đầy phần nửa. Cái mà chúng tôi thiếu là một trường học để đón tiếp họ và trợ cấp để nuôi dưỡng họ.”

Các con số quả là hùng hồn: 8 chủng sinh năm 1840; 12 năm 1841; 18 năm 1844; 14 năm 1846; 16 năm 1847; 13 năm 1848, cách nào mà Chủng viện bao gồm tất cả là 122 chủng sinh người Nam Kỳ.

Trong bức thư hằng năm gửi Giám Mục Besançon GM Matthiêu, Giám Mục Nam Kỳ thường đề cập đến ưu tiên đó: Tháng 2. 1849:

“Chúng tôi chỉ còn 5 thừa sai người Âu, kể cả tôi và khoảng 20 linh mục bản xứ đang làm việc. Phục vụ cho 80.000 giáo dân đối với một nước dài 400 dặm[1] và rộng từ 15 đến 20 dặm. Người ngoại sẽ trở lại hàng ngàn người nếu có ai lo cho họ.”

Ngày 31.1.1844:

“Con không thấy người Besançon dẫn bước đi truyền giáo. Có phải cái chết của các vị Gagelin và Marchand đáng kính làm cho họ sợ chăng? Con không dám giả thiết điều đó. Có biết bao nhiêu linh hồn để cứu vớt: Biết bao điều tốt lành có thể làm được trên những vùng đất rộng lớn này, nơi mà chỉ có quỷ cầm vương trượng.”

Không phải học sinh nào cũng đi tới chức linh mục cả. Một số trở thành thầy giảng, họ cũng không thể thiếu được cho mục vụ. Vô phúc thay cái chết cướp đi những người xuất sắc nhất. Năm 1851, Giám Mục Cuenot ghi nhận trong bảng phúc trình về tình trạng của giáo phận:

“Một trở ngại lớn cho việc truyền bá đức tin là thiếu thợ. Phải mất nhiều năm để đào tạo một linh mục. Có hàng nghìn chướng ngại phải vượt qua và điều xảy ra khá thường xuyên là đến lúc sắp truyền chức cho một thanh niên, thì cái chết đến hái mất không thương xót và cướp mất hoa trái của bao nhiêu công lao chăm sóc. Linh mục trẻ chết nhiều hơn linh mục già hầu hết chết vì kiệt sức”.

Hàng giáo phẩm địa phương, sẽ là nỗi ám ảnh của vị Giám Mục, mãi đến cuối đời Ngài: trước khi bị bắt, Ngài lệnh cho cộng sự viên của Ngài là Lm Herrengt, cho học sinh tẩu thoát. Còn Ngài thì ở lại tại chỗ.

Trong thời gian làm Giám Mục, Ngài đã truyền chức cho 56 linh mục, hầu hết rất xứng đáng: trong số đó 15 vị đã bị giết trong đợt bắt đạo 1860-1861.

Đúng vậy, chất lượng cũng quan trọng không kém số lượng. Ngài viết cho vị Giám Đốc:

“Ưu tư thứ nhất phải là lòng đạo: Hãy nuôi nấng lấy bằng cầu nguyện và đọc sách. Ưu tư thứ hai là kiến thức, để các linh mục có uy tín trên đồng bào của họ.”

Ngài còn muốn mở rộng công việc học hành. Năm 1848 thêm vào môn la-tinh và thần học, có toán, sử và địa, và có học chữ nho nữa.

Nhưng đào tạo để làm mục vụ là ưu tiên. Thế nên trong thời gian học thần học được xen kẽ những thời gian đi tập sự: bằng cách đó cũng như các Giám Mục thừa sai khác, Ngài đã dẫn trước các phương pháp rồi đây sẽ được áp dụng bên Pháp một thế kỷ sau. Một trong những vị thừa sai của Ngài nói:

“Theo những lời căn dặn của Ngài, các thừa sai người Âu mà cơn bắt đạo bắt buộc phải trốn tránh, sẽ biến nơi ẩn cư của họ thành một vườn ương cây gieo giống ơn gọi linh mục: mỗi người quy tụ chung quanh mình một số học sinh. Những học sinh giỏi nhất sẽ được gửi đến trường Pinang và sau 7-8 năm học, sẽ trở về bắt đầu dưới sự hướng dẫn của Giám Mục họ một nhà tập để có kinh nghiệm, ôn lại môn thần học áp dụng cho nhu cầu của đất nước và cả một loạt mục vụ và thử thách là lối chuẩn bị tốt nhất để lãnh chức linh mục.”

Ngài có nghĩ đến việc thiết lập một hàng giáo phẩm địa phương bằng cách chọn một Giám Mục người Nam Kỳ không? Chúng ta có thể trả lời là không, mặc dù Giáo Hoàng Grêgôriô XVI, năm 1845 đã kêu gọi trong hướng đó. Không một linh mục nào của Ngài đã sẵn sàng cho chức vụ đó. Sau đây là hai chủ trương của Ngài mà những người thân cận không ngớt mỉm cười nhắc đến:

“Cho dù một thừa sai người Âu, chỉ suốt đời ngồi trong hầm tối, không làm gì ngoài việc lần hạt, và đọc thần vụ, nguyên sự hiện diện của vị ấy giữa những Kytô hữu sẽ có ích, để kiểm tra và hướng dẫn hàng linh mục bản xứ, những người này khi bị buông ra sẽ thiếu sáng kiến, và cũng để hiệp thông trong cùng những hiểm nguy những đau khổ chịu đựng vì đức tin.”

Và câu châm ngôn sau đây tóm lược được tư tưởng sâu thẳm của Ngài: “Lạt mềm mà buộc chặt.”

Linh mục Việt-Nam đầu tiên được phong Giám Mục là cho giáo phận Phát Diệm năm 1933. Có nên trách Giám Mục Cuenot vì sự chờ đợi lâu dài ấy không? Tốt hơn chỉ cần nghe sự đánh giá của Giám Mục Paul Seitz Giám Mục Kontum (Đồng bào thượng) cho đến khi bị trục xuất năm 1975.

“Mọi sự gieo mọc đòi phải có hạt được gieo xuống đúng thời điểm, và đồng thời một thời gian chờ đợi lâu dài. Thế giới này đâu có bắt đầu với chúng ta mà thôi. Rất lâu trước chúng ta, nhiều người đã làm việc trong niềm trông cậy, khi không có gì để trông cậy. Dù họ ở đâu họ hãy mừng vui. Vì chẳng hoài công vô ích đâu.”

[1]  1 dặm 4km

(Còn tiếp)

GPKONTUM (06/05/2018) KONTUM

Advertisements
%d bloggers like this: