Home > GiáoPhận, Giới Thiệu, Sách Báo, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

17/05/2018

Vị Tử Đạo người Bélieu
Étienne – Théodore CUENOT
Giám Mục Thừa Sai
1802 -1861
 
Jean THIÉBAUD
1988

Hình Vua Thiệu Trị

 

 

(Tiếp theo)

DƯỚI THỜI THIỆU TRỊ  

 

Con của Minh Mạng là Thiệu Trị lên ngôi năm 1841. Ông này không rút lại bất cứ chỉ dụ bắt đạo nào nhưng bước đầu đã không tỏ ra hấp tấp để áp dụng. “Người ta không lùng bắt người công giáo. Dù vậy mọi lời cáo giác về họ đều được lắng nghe”. Ân xá cho hưởng sự khoan hồng của nhà vua, được công bố cho toàn thể, thì loại trừ người công giáo và các vị thừa sai bị tố cáo lại tiếp tục đi tù, tùy tính khí và lòng tham của quan lại. Thêm vào đó Thiệu Trị bắt đầu lo ngại: ông mới nghe được rằng một trong những chiếc tàu của Pháp lại chở vũ khí trực chỉ Nam Kỳ…

Chúng ta đã thấy rằng thời kỳ yên nghỉ năm 1841 đã cho phép Công Đồng Gò-Thị được triệu tập, một hành động mục vụ có tầm cỡ của GM Cuenot. Dưới Thiệu Trị, ba yếu tố lớn rồi đây sẽ làm thay đổi biển dạng chân trời của vị Giám Mục. Mặc dù chúng đang chéo vào với nhau, nhưng cần phân biệt để hiểu rõ hơn:

  1. Sự can thiệp của các thế lực Phương Tây.
  2. Sự phân chia Giáo phận Nam Kỳ.
  3. Truyền đạo trên Miền Thượng.

1)  Chính việc truyền giáo hướng về các sắc tộc sống trên dãy núi Lào (mà người ta gọi là “mọi”) khiến cho Pháp can thiệp lần thứ nhất. Hai thừa sai Lm Miche và Duclos, đã toan đột nhập vào đó năm 1842 và đang khi họ nghĩ đã được an toàn, xa hẳn vua quan, thì đã bị bắt và nhốt lại Huế nơi đã có ba thừa sai nằm tù. Chiếc tàu hộ tống Pháp “Héroine” cập bến Cửa Hàn (Tourane) ngày 25.2.1843 và đã giải thoát 5 tù nhân.

“Thuyền trưởng Lévêque đã tự ý hành động, GM Cuenot nói, nhân danh ông ta, nhưng biến cố đó đã khiến cho công chúng có ý nghĩ tốt hơn về tôn giáo và về người Pháp.”

Hai lần Giám Mục Lefebvre, phụ tá với quyền kế vị ở Nam Kỳ bị tù. Tháng 3.1847, thuyền trưởng Lapierre đến Tourane, nhân danh chính phủ Pháp đòi an ninh cho những đồng hương của mình và tự do tôn giáo cho bổn đạo Nước An-nam. Vua gài một cái bẫy: ông sẽ cho bất thần bao vây hai chiếc tàu và đốt rụi. Nhưng một giáo dân, liều mạng mình, phá vỡ âm mưu. Giám Mục Cuenot viết cho GM Matthiêu tháng 2.1848.

“Đức Cha biết rằng hai chiếc tàu Pháp đến Nam Kỳ tháng 3.1847 đã buộc phải ra tay với thủy quân Nam Kỳ- bị bại hoàn toàn. Thiện Trị tức tối, giận cá chém thớt, đã đổ hết cơn lôi đình của ông trên đầu các tân tòng của chúng ta và đã tái bắt đạo, nhưng trong thời gian chưa bao lâu. Ông đã chết ngày 4.11.1847.”

Mùa thu năm 1847, người Anh cũng bén mảng đến Tourane và muốn thương thuyết để ký một hiệp ước buôn bán với hoàng đế và “bảo vệ ông chống lại người Pháp.” Họ bị đuổi khéo, nhưng mưu toan của họ không phải là không có vang âm:

“ Họ đã khéo “tuyên bố là họ không phải là người công giáo. Lời tuyên bố đó có lợi cho chúng ta vì nó đã ngăn cản không để người có đạo bị nghi ngờ là đứng về phía họ.”

Vài năm sau, những lần can thiệp của Phương Tây sẽ gây nên nhiều tai họa lớn. Triều đình Huế theo dõi các biến cố bên Trung Quốc: việc buôn bán thuốc phiện, Quảng Đông bị dội bom (1841), Hiệp Ước Nam Kinh (1842), dồn dập gây oán hận đối với những hiệp ước bất bình đẳng và mối thù đối với Phương Tây.

2) Sự phân chia Giáo Phận Nam Kỳ

Năm 1841, mặc dù Giám Mục Nam Kỳ, vẫn lấy làm tiếc rằng giáo phận quá rộng lớn, nhưng chưa thấy khả năng nào có thể chia cắt ra: vì thiếu các thừa sai người Âu để có được một ê-kíp chung quanh một mục tử. Ngài sẽ không chậm trễ viết thư yêu cầu:

“Các cha biết là tôi xin phân chia giáo phận. Thế nên chúng tôi cần những Giám Mục có quyền kế vị, những phụ tá, và những con người có khả năng thay thế chúng tôi ngay khi cần.”

Ngày 11.3.1844 giáo phận mới được thiết lập, đối với các tỉnh miền Nam, mặc dù Giám Mục được bổ nhiệm, Đức Cha Lefebvre đang ngồi tù. Giáo phận của Ngài bao gồm 23.000 giáo dân chia làm 80 giáo xứ, (trên 3,5 triệu dân số). Để phục vụ họ, có 3 thừa sai 16 linh mục bản xứ. Không có trường, trường Lái Thiêu thì đã sụp đổ. Giám Mục Cuenot vẫn còn 9 tỉnh khoảng 50.000 giáo dân trong 30 họ đạo.

 Rồi đây Ngài sẽ xin chia thành những giáo phận nhỏ hơn nữa, cũng vì những lý do trên: việc liên lạc với các tỉnh phía Bắc quá khó khăn, các trạm gác là một mối nguy hiểm và hay phiền nhiễu khách bộ hành. Thế nên ngày 27.8.1850 Roma đã chấp thuận yêu cầu của Ngài và cho thiết lập thêm giáo phận Bắc Nam Kỳ: 3 tỉnh; 24.000 tín hữu, 2 thừa sai; 10 linh mục bản xứ.

Giám Mục Cuenot đã có thể nhường lại cho hai Giám Mục được Toàn Thánh bổ nhiệm 26 linh mục do Ngài đào tạo. Ngài giữ lại phía Đông Nam Kỳ, với tỉnh Bình Định ở giữa 6 tỉnh khác. Ngài giải thích với Lm Charles Cuenot:

 “ Giáo phận của con chỉ còn 5 vĩ độ (thứ 11 đến thứ 15) và cũng chừng ấy, kinh độ (từ 102,30 đến 106,57), 30.000 giáo dân, 12 linh mục bản xứ, trong số đó một đang ngồi tù.”

Tiếp đó Ngài nói đến việc truyền giáo ở các làng thượng mối bận tâm lúc bấy giờ của Ngài.

3)Việc truyền giáo trên Cao Nguyên.

 Công cuộc truyền giáo giữa người Thượng là “đoạn văn trổ tài” của Giám Mục Cuenot trong mục vụ của Ngài: “Chưa bao giờ Ngài tỏ ra kiên trì như trong công việc khó khăn này”, một cộng sự viên thân cận đã viết về Ngài.

“Phải tránh sự kiểm soát của các thuế quan người An-nam, sự ganh tị của các tên lái buôn dù rất hiếm, thường lảng vảng đến trao đổi với người thượng và với mối nghi ngờ của chính những người này, họ nhìn mọi người ngoại quốc như một kẻ thù đối với sự độc lập của mình.”

Ngay khi bước chân đến Nam Kỳ, Étienne Cuenot thấy lợi ích cho công cuộc truyền giáo, việc thám hiểm các đồng bằng sông Cửu Long, và các con sông nhánh của nó là Bla, Pêkô, các đồng bằng thuộc Nước Lào: đông đúc dân chúng bám sống chung quanh các con nước và theo lời những tên đi buôn, thì có những người theo đạo sống trên các bờ sông. Chiến tranh giữa Xiêm và Nam Kỳ đã giải tán những cộng đồng Kytô hữu ít ỏi đó.

Trong thời gian bắt buộc lưu lại bên Xiêm (1833-1834) Lm Cuenot đã không do dự đi đến tận biên giới phía đông đến tỉnh Battambang: Cuộc thăm viếng này đã được Lm Denys Cuenot đi giảng 18 tháng ở Cam-Bốt kể lại trong tài liệu lưu trữ.

Là Giám Mục Nam Kỳ, GM Cuenot không thể quên rằng, những lãnh thổ rộng lớn kia thuộc quyền cai quản của Ngài. Ngày 19.11.1839, Ngài viết thư từ Bình Định cho Hội Đồng Tư Vấn của Thánh Bộ Đức Tin:

“Một trong những nguyện vọng tha thiết nhất của tôi là mở một con đường cho Tin Mừng đến tận sông cả ở Lào, và mặc dù đã hai mươi lần thất bại, mới đây tôi đã thử thêm một lần nữa. Vô phúc thay, lần này không hơn gì mấy lần trước, xét về mặt đức tin nhưng ít là nó không phải là vô ích về sự hiểu biết.”

Sau đó Ngài nói đến những Kytô hữu đã thăm dò những bộ lạc đến nay chưa được biết đến, cách Phú Yên hai mươi dặm về phía Tây: dân Hadrong, Srê, Ja-rai. Đó là những bộ lạc, không có chữ viết, không có tiền tệ, rất trung thành giữ lời hứa và có những tập tục khắt khe hơn người An-nam. “Có thể đi qua Lào bằng con đường này nhưng những người An-nam đi buôn sẽ tố giác chúng ta.”

Tháng 2.1842, một cuộc thăm dò được tổ chức, “xuất quân từ Phú Yên” (ở 125 cây số phía nam Bình Định). Các Lm Miche và Duclos, lấy lọ bôi mặt, lợi dụng mấy ngày Tết để đi về phía các dãy núi miền tây cùng với các thầy giảng và những người gánh đồ đạc. Chẳng may, đoàn lữ hành 16 người đã gây chú ý. Họ bị tố cáo, lùng đuổi trong lúc mà họ tưởng đã an toàn sau khi qua khỏi mấy trạm thuế. Họ bị mang gông, tống giam tại Phú Yên, và sau đó điệu về Huế, sau khi đã bị tra tấn dữ dội. Tháng 12 năm 1842, Lm Miche từ nơi bị giam giữ, đã có thể gửi cho Giám Mục mình một lá thư, chia sẻ với Ngài về một cuộc nói chuyện lý thú với một tên thông ngôn người Lào: “anh này, mặc dù chưa thấy một ngôi nhà thờ công giáo bao giờ, đã cho biết rằng trên núi Ông Thê, có một nhà cầu nguyện gắn Thánh Giá.

“Trước đây có một linh mục sống ở đó. Các trưởng làng duy trì dân chúng trong tôn giáo mà linh mục đó đã dạy”.

Một lời lẽ như vậy chỉ có thể củng cố quyết định của Giám Mục Cuenot. Từ năm 1843 đến 1846 Ngài dốc hết sức lực chuẩn bị một cuộc thăm dò mới. Phải tìm một nơi khác để “xuất quân” Phú Yên nguy hiểm quá. Ngài quyết định đi từ An Sơn, ở cách Bình Định 120 Km về phía bắc, tỉnh mà Ngài quen thuộc hơn cả. Phải nghiên cứu làm sao đột nhập vào, dựa vào các thông tin nghe được xa hơn dãy núi, phải nhắm lần đến con sông Bla: một đồng bằng phì nhiêu bảo đảm hơn để làm trạm nghỉ chân.

Nhất là phải thuần phục dân làng, và nếu được biến họ thành những người bạn trên đất của kẻ thù. Khi muốn biết có cần đi qua một xóm nọ không? Tức khắc đoàn gửi đến một ông Lang khéo léo, muốn biết xóm khác có nguy hiểm không, sẽ cử người lần lượt qua đêm để đánh giá.

Tất cả đều được nghiên cứu kỹ lưỡng cho cuộc thăm dò thành công: gởi người đi tiền phong, tiền trạm. Những năm 1846-1847 là quyết liệt. GM Cuenot xin bạn bè bên Pháp cầu nguyện cho dự án. Năm 1845, trong bản phúc trình gửi Ban Tư Vấn công cuộc Truyền Bá Đức Tin Ngài nói:

“Đã từ lâu tôi mong mở được một địa điểm truyền giáo giữa những người thượng đang sống ven xứ Nam Kỳ về phía Tây. Nhưng cho đến nay mọi mưu toan của tôi không thành công. Điều đó không ngăn cản tôi tiếp tục và tôi sẽ không bỏ qua một điều gì để thành công. Nếu chúng tôi có thể đến sống giữa những bộ lạc độc lập đối với Hoàng đế Nam Kỳ này, thì sẽ được nhiều cái lợi lớn. Chúng ta sẽ tìm được ở đó một bến bình yên cho những lúc khủng – hoảng; chúng ta sẽ thiết lập trường học ở đó, vv…có thể tin là họ sẽ theo đạo của chúng ta hàng loạt.”

Năm sau, Ngài xin lỗi vì khoảng “tiền chi hơn cao” (35.000F):

“Những nhu cầu do thời bắt đạo tạo ra, có thể thay đổi, nhưng sẽ có những chi phí khác, nhất là nếu chúng tôi có thể đột nhập vào những ranh giới của vô số bộ lạc đang sống trên dải đất rộng ở miền tây Nam Kỳ.”

Ngài ghi rõ: 1.700 F dùng để cố gắng đi đến với người “Thượng” (năm 1846 ít sóng gió hơn. Mấy năm trước đó phải hết sức thận trọng: “Khám soát, đập phá, gửi gián điệp: người ta đã để sẵn một chiếc võng cả tháng trời, trước cửa nhà tôi, sẵn sàng đưa tôi đi ngay khi kẻ thù rục rịch.”)

Đầu năm 1848, giấc mơ đang trở thành hiện thực. Ngài xin mỗi năm trợ cấp 5.000F cho công cuộc truyền giáo ở trên làng thượng .

“Gần một năm nay, một linh mục bản xứ đang ở giữa họ và mong được ở lại luôn. Mấy hôm nay, một linh mục khác cùng một thầy sáu và 5-6 học viên đang vượt ranh giới đến với linh mục thứ nhất, và tôi sẽ không quá chậm trễ gửi tiếp một nhóm khác. Chính là để yểm trợ nuôi ăn cho những người này cùng những người kế tiếp mà tôi xin món tiền trợ cấp hằng năm trên đây. Tôi đặt niềm hy vọng nơi địa điểm truyền giáo này bao gồm ít nhất là 2.000.000 người nhưng phải ít là hai năm nữa mới sinh hoa kết quả”.

Chúng ta hãy ghi nhận điều này: toán người đầu tiên đã đến sống giữa người thượng đều là người bản xứ. Sự gan dạ của Giám Mục Cuenot không những ở chỗ dám đương đầu với các bộ lạc “man rợ” mà còn đã biết tín nhiệm nơi các linh mục Nam Kỳ và nơi bổn đạo bản xứ, đã khóa được miệng những người từng có thành kiến về Ngài rằng “đối với Ngài, không một linh mục bản xứ nào đã tỏ ra biết lãnh đạo người khác.”

Cũng như vào năm 1826, đức  khiêm nhường đã cứu vãng được mọi sự.

 

(Còn tiếp)

GPKONTUM (17/05/2018) KONTUM

Advertisements
%d bloggers like this: