Home > GiáoPhận, Giới Thiệu, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu, TinTức > Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

14/06/2018

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai
1802 -1861
Jean THIÉBAUD
1988
(Tiếp theo)

NGƯỜI ÂU GIỮA NGƯỜI THƯỢNG [1]

 

Sau khi Thiệu Trị qua đời, đứa con thứ hai, Tự Đức được chỉ định nối nghiệp dù còn trẻ: 18 tuổi.

“Tiếng đồn rằng ông là một người ôn hòa. Tự Đức được phong vương ngày 10.11.1847, không bị chống đối.”

Niềm hy vọng của GM Cuenot kéo dài không được bao lâu. Tháng 7.1848, vị hoàng đế, trẻ tuổi đã ký sắc dụ cấm đạo đầu tiên.
Giám Mục Cuenot đã nói đến trong thư viết vào tháng giêng năm 1849 cho Lm Cuenot, Giám Đốc Đại Chủng Viện, Ngài thêm:

“Đã từ lâu tôi tra tay mở địa điểm truyền giáo giữa người thượng. Cho tới nay, mọi cố gắng của tôi chỉ dẫn tới việc thiết lập được một cơ sở nhỏ nơi đó có hai linh mục bản xứ và mười người tháp tùng nhưng hình như chưa thành công cho lắm. Phải có một thừa sai người Âu đứng đầu mới được, tôi chẳng biết khi nào và làm sao gửi đến đó được một vị. Người thượng rất đông, một vài bộ lạc có vẻ sẵn lòng. Sớm muộn gì, với ơn Chúa, tôi sẽ làm được thôi, lúc đó sẽ có tin báo cho Bác.”

Một suy nghĩ bộc phát nổi hiện nơi phản ứng của bản chất con người…Nhưng quả là hấp tấp. Một lỗ hổng đã được mở ra. Nhưng làm sao hai linh mục ấy đã len lỏi đến đó được: Đó là nhờ tính anh hùng của một đứa con của đất nước này, thầy Do. Thoạt đầu là học sinh, kế đến là thầy dạy học, anh thanh niên này đã theo học mười một năm ở Pinăng. Trong thời bắt đạo thầy đã tỏ ra can đảm và một lòng tín nhiệm không suy suyển vào Chúa.

Giám Mục Cuenot gọi thầy đến Gò-Thị và không úp mở đặt ngay vấn đề:

– Con phải mở ra một con đường để đi truyền giáo giữa “người thượng”. Con có kế hoạch gì?

– Con sẽ cải trang làm con buôn. Vừa buôn bán con sẽ tiến qua bên kia các ranh giới mà những người khác chưa bao giờ dám vượt. Thăm dò xong, con sẽ trở về đưa một linh mục qua sau khi đã biết địa hình.

– Tốt lắm. Cha biết có thể dựa cậy vào con. Nhưng để chu toàn sứ mệnh đó con cần nhiều can đảm và mưu trí con hãy chuẩn bị bằng việc cầu nguyện và tĩnh tâm để đón nhận ơn mà Chúa sẽ ban cho con.

Tám ngày sau, Đức Cha phong chức phó tế cho Thầy.

Thầy Sáu Do thoạt tiên đến xin làm bếp cho một tên lái buôn ở An Sơn. Không chủ định nhưng gặp đâu thầy hỏi han “anh em thượng”, và học tiếng của họ. Sáu tháng sau thầy đến báo cáo công việc của mình Giám Mục chấp thuận và giao cho thầy bốn chủng sinh trẻ tuổi. Cuộc thám hiểm thứ hai; bây giờ chính thầy Do làm tên lái buôn đi vào trong bộ lạc Hadrong. Những tên tháo khẩu lục lâm toan bắt người lẫn hành lý, nhưng thầy Do đã trốn thoát, trở về, mất sạch, và tiu nghỉu. Tuy vậy thầy đã tìm ra một con đường mà các người đi buôn khác chưa hề biết đến và lần này đã rút được nhiều kinh nghiệm:

“Cọp và voi còn biết thương hại chúng ta hơn là loài người anh anh em chúng ta.”

Nhờ con đường mới khám phá này mà những tốp truyền giáo đầu tiên đã có thể đột nhập vào trong các làng thượng: sau các linh mục bản xứ, bây giờ là đến lượt các thừa sai: các lm Combes và Fontaine năm 1949, rồi Lm Dourisboure và Desgouts năm 1850; năm 1852, Lm Arnoux…

Lm Combes và Fontaine sẽ nhớ suốt đời cuộc xuất chinh đầu tiên với thầy Do và các chủng sinh. Chỉ cần ba ngày họ đã đến lãnh thổ của các bộ lạc độc lập, sau khi đã tránh được các trạm thuế. Chẳng may ngày thứ ba một trận mưa như trút đổ xuống trên cánh rừng già. Không sao bước tới được trong cánh rừng lầy lội này. Qua tia chớp và sấm sét, họ trông thấy xuất hiện một bầy voi rừng tấn công họ. Một trong những thanh niên bị thương nặng. Cha Combes thoát chết nhờ chiếc nón của Ngài bị một con voi điên tiết dẫm dưới bàn chân. Ngài quyết định từ bỏ chuyến đi nguy hiểm này và trở về Gò-Thị bằng thuyền. Cơn bão chẳng đáng gì so với sự tiếp đón cục mịch của Giám Mục khi họ mới vác mặt về, Lm Dourisboure thuật lại.

“Không thể được à? Giám Mục gầm lên. Chẳng xứng với người Pháp mà cũng chẳng xứng với người tông đồ…Tôi cho mấy anh 15 ngày. Sau đó mấy anh lại lên đường và khôn hồn thì đừng có mà quay về.”

Linh mục Combes gọi giai đoạn này là “cuộc thám hiểm của những tên nhát gan.”

Trong thư gửi Hồng Y Matthiêu ngày 11.2.1852 GM Cuenot viết:

“Việc truyền giáo giữa người thượng tiếp tục đầy hy vọng: 5 thừa sai người Âu, 3 Lm bản xứ, một số giáo sĩ, thầy giảng, học sinh và người giúp việc đã được thu dùng vào đó. Khó khăn chính là số ngôn ngữ phải học và thậm chí phải phát minh ra nữa; mỗi bộ lạc có tiếng nói riêng và ngôn ngữ của họ, nhưng ngôn ngữ nghèo nàn đến độ thiếu từ để diễn tả dù chút đỉnh về những điều thiêng liêng và trừu tượng.”

Đời sống của vị thừa sai đòi họ phải anh hùng hằng ngày. Cứ xét qua những chứng tá sau:

“Ở đây phải đi chân đất, thường xuyên bị đỉa hoặc kiến lớn cắn, bơi lội qua sông, khi đến gần các làng, luôn cảnh giác lo sợ đạp phải những mũi tên tẩm độc cắm trên mặt đất. Kế đến là những cơn sốt, những tin đồn vu khống là ve vãn quyến rũ, những lần trở trời phải gió, những âm mưu được tính toán trong bóng tối. Tắt một lời, mọi điều gây đau khổ và thất bại…

“Nơi người Bana, không một quyền bính nào dù là dân sự dù là gia đình được nhìn nhận. Mọi cá nhân là một người riêng biệt và chỉ có vậy mà thôi. Không ai có quyền ra lệnh và cũng chẳng ai phải tuân phục cả. Trong gia đình, đứa con chỉ vâng lời cha trong những gì nó muốn. Mỗi làng đều độc lập. Trong mỗi xóm, mọi người đều độc lập. Trong trường hợp tranh chấp bạo lực là luật lệ.”

Năm 1851 GM Cuenot viết thư cho Bố và nói đến Lm Arnoux, một người đồng hương, vừa mới đến:

“Ngài đang ở giữa người “thượng” cách đây khoảng 60 hoặc 80 dặm. Chắc hẵn sẽ phải đau khổ nhiều, vì họ rất nghèo. Họ luôn mình trần dù mùa đông hay mùa hạ. Họ chỉ mặc khố, đôi khi bằng vỏ cây. Suốt năm ăn đói vì họ không nghĩ đến ngày mai. Họ thiếu đến cả hột muối. Các thừa sai sống ở giữa họ thường thiếu thốn mọi sự. Mặc dù vậy ai cũng muốn được gửi đến đó. Con mong rằng rốt cuộc rồi họ cũng có thể là những con người và những Kytô hữu. Bố hãy cầu nguyện nhiều cho chúng con.”

Giám Mục dấn thân hoàn toàn cho sự sống còn và tiến triển của địa điểm truyền giáo giữa anh em thượng. Đầu năm 1850, Ngài nhận được một tin gây ngạc nhiên do Lm Combes gửi về: tên KIÊM dữ tợn, mà Giám Mục Cuenot căn dặn phải tránh xa, vừa thỏa thuận một hiệp ước thân thiện với các vị thừa sai? Giám Mục xúc động, cầm lòng một hồi lâu, quay qua nói với Lm Dourisboure:

“Nói cho cùng, đó là việc của Chúa, Ngài sẽ biết sử dụng có lợi cho vinh quang của Người về phần tôi, tôi mới tự ràng buộc mình bằng một lời khấn, bó buộc tôi cho đến chết.”

Cảnh nghèo khổ của anh em Ngài và của đồng bào thượng làm Ngài đau lòng. Làm sao xoay xở để đáp ứng một cách hữu hiệu mà không luôn luôn phải ngửa tay xin bạn bè bên Pháp? Chỉ có một giải pháp duy nhất là: buôn bán. Ngài thuận theo: hơn phân nữa những khoản trợ cấp các năm 1847-1848 đã biến mất dưới đáy biển, bị cướp phá. Ngài cũng lo rằng cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị, những năm đó bên Pháp làm cạn kiệt các tặng vật. Thế nên Ngài gửi đơn nêu lý do, xin được phép buôn bán: chỉ có thể đến với các bộ lạc người thượng bằng con đường buôn bán, thậm chí còn phải mua “môn bài” để có quyền buôn bán trên lãnh thổ của họ nữa. Mặt khác dọc bờ biển, một chiếc tàu buôn sẽ che giấu bổn đạo không gây nghi ngờ…

Từ nhiều năm nay, vị Giám Mục thấy việc truyền giáo không thể thiếu ghe thuyền: hai chiếc để đưa các vị thừa sai từ tỉnh này sang tỉnh khác; một chiếc khác, to lớn hơn để hằng năm đi về phía Xinh-ga-po và Pinang.

Chiếc thuyền của GM Cuenot mà đôi khi Ngài gọi một cách oai vệ là “chiếc buồm dọc” đã đi vào truyền thuyết. Nó cũng được sử dụng cho các điểm truyền giáo ở Bắc Kỳ. Những người lái thuyền toàn là người tận hiến; thành viên của “tu hội Nhà Chúa”[2]

Nó là giây liên lạc nối liền các xứ truyền giáo với thế giới bên ngoài. Nhưng đó là cả một sự phiêu lưu mạo hiểm. Ngoài những nguy hiểm và bọn cướp biển, còn phải tránh các trạm thuế Nam Kỳ được đặt ở các cửa khẩu và ở các biên giới. “Những người lái thuyền thường xuyên liều mạng để phục vụ Chúa và Giáo Hội.” (Jean Guennou)

Bây giờ chúng ta hãy trở lại với anh em thượng, những chỉ thị ngày càng rõ, nhịp theo bước những người đi khai khẩn. Sau khi đã khai quang các rừng thưa, các thừa sai nhận mỗi người một bộ lạc ( có tất cả 12 bộ lạc). Combes đến với người Bana. Họ chiếm tất cả 90 làng và tỏ ra ôn hòa hơn: người đến với dân Jarai, Xơ đăng…Thầy Sáu Do đi Ko Ngao, Fontaine nhập bọn với người Connetro , đã nắm trong tay bản đồ của một trường và một nhà thờ, và chung quanh là những nông trại kiểu mẫu. “Phải dung hòa phần thiêng liêng với phần thế tục.” Giám Mục Cuenot rất muốn đến tại chỗ để theo dõi sát hơn công việc tông đồ của từng nhóm.

Hai bức thư gửi về quê mở ra cho những người nhận, một chân trời rộng lớn hơn: thư gửi Lm Cuenot Giám Đốc đại chủng viện:

“Con không mơ ước gì hơn là một tân Paraguay. Bác hãy gửi cho con hai điều mà Bác có thể cung cấp được. Bác hãy giúp anh em đồng Hội chuẩn bị sang đây học được vài ngành nghề hữu ích để có thể dạy lại cho các tân tòng. Theo kế hoạch của con, con mong rằng điểm truyền giáo giữa anh em thượng, khi đã được thiết lập, sẽ tự túc được.”

Thư gửi Hồng Y Matthiêu (1853): “Điểm truyền giáo giữa người thượng tiếp tục đem lại hy vọng và một trong năm bộ lạc mà anh em đi truyền giáo tỏ ra hoàn toàn quyết tâm gia nhập đạo của chúng ta. Chúng tôi đã rửa tội cho vài người…”

Năm 1853 được đánh dấu bằng một ngày vui bên phía “người thượng”: ngày truyền chức linh mục của thầy Sáu Do: linh mục Do trở về trong bộ lạc của mình và sẽ truyền giáo ở đó suốt đời. Ngày rửa tội của những người tân tòng đầu tiên: Giuse Ngui, một thanh niên người Xơ đăng và anh Pat. Lm Dourisboure cuối cùng đã đáp lại sự chờ mong lâu dài của họ và đã xúc động chứng kiến bước tiến thiêng liêng của họ:

– “ Anh Ngui, tại sao anh tin những điều tôi nói?

– “Trước đây, khi con đến nghe Cha, là để tiêu khiển. Từ từ con lưu ý đến một vài điều Cha nói và mọi nghi ngờ trong con đều biến mất. Bây giờ con tin đến nỗi mà Thiên Chúa tốt lành kia, thiên đàng hỏa ngục mà con chưa bao giờ thấy, thì con tin như mình đã từng thấy.”

Trong bộ lạc Bana, Lm Combes rửa tội cho Hmur, một con người vạm vỡ (mà bà vợ là phù thủy trong làng). Nhiều anh em thượng kinh ngạc thấy ông quăng xuống sông vật thờ cúng bùa hộ mệnh của mình. Họ hiểu rằng bộ lạc này đã tiến được một bước khi bất chấp những điều cấm kỵ của tổ tiên.

Lm Combes là bề trên của xứ truyền giáo này. Ngày 29.9.1853, sau ba năm lưu lại đây, Ngài gửi về Chủng viện Hội Thừa Sai Paris một bản phúc trình chi tiết về tất cả những gì Ngài biết về đất nước, về các bộ lạc và não trạng của họ. Trong số các điều Người nhận xét, có sự sửng sốt kinh ngạc của họ khi thấy chữ viết:

“Họ không thể hiểu làm sao có thể trao đổi tư tưởng với nhau được ngoài lời nói. Thế nên khi họ thấy chúng tôi đọc một cuốn sách, họ đặt nghìn câu hỏi lạ lùng nhất: – Tờ giấy này nói gì với ông? Họ muốn trả hỏi nơi tờ giấy mọi sự: tìm ra vật đã thất lạc, về tương lai, ông cha họ có mắc nợ không. Nếu chúng tôi thú nhận rằng mình không biết, họ quả quyết là chúng tôi giấu chứ biết hết.”

Ngày lại ngày Combes ghi lại từ vựng Ba-na, sau đó được chuyển sang phương ngữ Xơ-đăng.

Những cố gắng lớn lao này là giá trả cho công cuộc truyền giáo ở đây khiến Lm Combes, rất được người thượng yêu mến, đặt tên là “xứ truyền giáo Đức Mẹ cứu chữa.”

Năm 1847, khi Gm Cuenot chờ Người về để phong làm Giám Mục phụ tá của mình, thì Thiên Chúa đã đến rước người đi. Năm 1843, Người ước ao một điều:

“Nếu trước khi chết tôi có thể rửa tội cho 6 người lớn và ít là chuẩn bị cho 15 dự tòng, thì tôi cũng đã mãn nguyện hát bài “Nunc dimittis” [3]

Người đã rửa tội được 34 người lớn và chuẩn bị cho 23 dự tòng khác. Người chết năm 32 tuổi.

Công cuộc truyền giáo làm hao hơi tổn sức rất nhanh: lần lượt đã quật ngã các Lm Arnoux, Verdier, Besombes, Suchet…Ngui, người thanh niên Xơ-đăng. Chỉ có Lm Do, người con của đất nước, đã đứng vững được 23 năm.

Năm 1870, khi Lm Dourisboure kết thúc bản tường thuật của mình về việc truyền giáo giữa người Ba-na, thì đã có 900 bổn đạo rải rác trong 7 làng: một trang sử xứng với những năm đầu của Kytô giáo trên thế giới. Năm 1908, Lm Martial Jannin, người Besançon, thành lập tại Kontum, gần sông Bla, một trường đào tạo những giáo lý viên. Ngài đặt tên cho trường là Cuenot. Ngài trở thành Giám Mục đầu tiên của Kontum được nâng lên hàng giáo phận năm 1932.

Giám Mục Seitz, là Giám Mục người Pháp cuối cùng ở Kontum. Bị trục xuất, Ngài không thể quên được anh em thượng của mình. Cuốn “những con người đứng vững” đề cao giá trị của những anh em thượng ở miền Nam Việt-nam “hãnh diện về mình” như là một thách đố, trước tuyệt vọng.

[1]  GM Cuenot gọi là Sauvages = rợ, man rợ. Có lẽ là từ được dùng lúc bấy giờ. Ở đây xin chuyển đổi cho hợp thời và dễ nghe hơn là “người thượng” – “anh em thượng”, mong rằng không vì vậy mà phản bội bản gốc.

[2] “Một trong những phương tiện tông đồ của Lm Đắc Lộ là việc thành lập Dòng các thầy giảng, mà Ngài huấn luyện đầy đủ không thua gì ở chủng viện. Họ làm đủ mọi nghề không đòi phải có chức linh mục và một cách tự nhiên họ khấn giữ 3 lời khấn, dẫn tới một thể chế đặc biệt trong Giáo Hội Việt-Nam, đó là “Nhà Chúa”: Thừa sai và linh mục Việt-Nam, thầy giảng, giáo viên, chủng sinh, mọi người sẽ sống trong Nhà Chúa, kể cả những người giúp việc ví thể những thành viên trong một gia đình mà Giám Mục là gia trưởng. Mọi người đều sống trên của cải chung của cộng đoàn nhưng không nhận bất kỳ hình thức lương bổng nào cả. Chế độ đó được áp dụng có hiệu lực trong tất cả các giáo phận ở Nam Kỳ, với đôi chút khác biệt, mãi cho đến những năm gần đây.”

      Trích Simon Delacroix “Lịch sử công cuộc Truyền đạo Công Giáo”, II trang 65).

[3]  Bài “An bình ra đi” của Ximéon: “Giờ đây theo Lời Ngài đã hứa xin để tôi tớ này được an bình ra đi”. Lc 2,29

(Còn tiếp)

GPKONTUM (14/06/2018) KONTUM

Advertisements
%d bloggers like this: