Home > Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai 1802 -1861 Jean THIÉBAUD 1988

17/06/2018

Vị Tử Đạo người Bélieu Étienne – Théodore CUENOT Giám Mục Thừa Sai
1802 – 1861
Jean THIÉBAUD 1988

(Tiếp theo)

CUỘC TIẾN BƯỚC KHÓ NHỌC

Chúng ta vừa theo dõi hoạt động của GM Cuenot ở biên giới giáo phận, cách 80 dặm nơi Ngài cư ngụ. Đã đến lúc phải theo Ngài tại nơi ẩn cư của mình ở Gò-Thị, gần Bình Định. Mọi biện pháp thận trọng đã được dùng đến để tuyệt đối bảo vệ bí mật về nơi ẩn cư của Ngài: phần đông bổn đạo không hề biết. Một vài nơi khác được dự kiến cho các thừa sai người Âu: những bổn đạo tín cẩn nhất phải báo ngay khi có nguy hiểm. Một chiếc thuyền ở một vũng cạnh bờ biển, luôn chờ sẵn cho các Ngài tẩu thoát. GM Cuenot cũng như các Giám Mục khác, luôn giao cho các linh mục bản xứ việc thăm viếng mục vụ các bổn đạo. Mãi cho đến năm 1850, quân quan không dám bén chân đến vị sợ.


“Các quan không dám đến thăm nơi con ở, vì sợ còn gặp con ở đây. Họ không lợi được cái thá gì khi bắt được con mà còn có thể bị phạt nữa là khác….Vua rất lo sợ rằng những người Âu đến giao chiến với ông.” (Thư gửi gia đình, ngày 21.2.1847).

Chỉ có một lần, và một lần duy nhất, mà các thừa sai người Âu đã có thể xuất đầu lộ diện. Trong hai năm 1850-1851 bệnh dịch tả, trầm trọng chưa từng thấy đã hoành hành trên toàn thể bờ cõi Nước An-nam. Trước tai họa đó, các quan mạnh ai nấy then cài cửa đóng, Vua chôn chân trong dinh. Những tên tố giác mật thám chỉ điểm biến mất như nhờ phép mầu: người công giáo đi lại tự do. Lần đầu tiên họ có thể tụ tập để tiến hành phụng vụ. Người ngoại giáo hoảng hốt đến xin khấn vái nài xin họ đi chôn kẻ chết. Nạn dịch đã giết chết một phần mười dân số, nghĩa là khoảng 2 triệu người. Do nạn dịch, Lễ Đại Xá do Tòa Thánh ban năm 1850 đã phải dời lại năm sau. Bổn đạo xứ An-nam rất thích nhưng lễ như thế. Đó là cơ hội hâm nóng lại lòng sốt sắng của tín hữu cho những người đã chối đạo vì không chịu nổi tra tấn, có đường trở về lại chuồng chiên sau 10 hoặc 15 năm. Mọi người tưởng chừng đâu đã đến lúc yên ổn giữ đạo:

“Dịch tả đã cướp đi khối người. Bổn đạo của chúng tôi cũng không được tha. Tôi ước lượng có khoảng 10.000 công giáo chết vì bệnh dịch….nạn đói cũng đã đe dọa vài nơi.”

Một trong những thừa sai thêm: “Nhiều tín hữu đã xông pha cứu thoát trẻ con đang lăn lóc trên xác mẹ chúng, không kể đến tính mạng mình, khiến chính các quan cũng phải buột miệng khen ngợi, họ đã có thể phê phán xem đó có phải là tà đạo không, khi đã đẩy người ta quảng đại phục vụ như thế.”

Sự ngưng nghỉ quả là ngắn ngủi. Ngày 21.3.1851 Tự Đức ban hành một cấm dụ. Anh của Tự Đức là Hoàng Bảo chưa bao giờ nuốt trôi việc Tự Đức cướp ngôi. Nhiều lần Hoàng Bảo kêu gọi người công giáo giúp ông chiếm lại ngai vàng, hứa sẽ để họ tự do giữ đạo và che chở họ sau này. Các Giám Mục hết sức tránh dính vào việc này và cấm ngặt người tín hữu dấy vào những âm mưu chính trị [1]. Mặc dù vậy họ vẫn bị nghi ngờ: mọi biến cố sự kiện trong, ngoài đều là cái cớ để kích lòng hiềm khích đối với “tà đạo”. “Người Anh đổ bộ năm 1851 không thể không gây khủng hoảng cho chúng tôi.” (Thư gửi Hồng Y ngày 18.2.1851)
Năm sau một bức thư gửi Hồng Y Matthieu khẳng định những dự án đầy đe dọa của vị Hoàng đế trẻ: “dứt khoát tỏ ra thù nghịch với người Kytô hữu.”
Từ năm 1852 đến 1855, Tự Đức bàn bạc liên tục về vấn đề tôn giáo, bị giằng co giữa hai phe trong triều đình: những quan trẻ tuổi quả quyết không thể dùng bạo lực giải quyết vấn đề, thì nghiêng về thái độ ôn hòa tạm thời. Các quan kỳ cựu thời Minh Mạng, bám trụ vào quyền lợi của Nhà Nho được Trung Hoa khuyến khích đã bày tỏ một mối thù khôn nguôi, muốn bắt chước thái độ của Bộ Hình Trung Hoa về khoản này. Chính phe này cuối cùng đã thắng thế.
Tự Đức khen ngợi Trấn Thủ Bình Định về kế hoạch hoạt động trong tỉnh được tiến hành từ mùa hè năm 1853. Kế hoạch đó, tắt một lời là biến người có đạo thành một lớp tiện nhân bị mọi người ghét bỏ.

– Một gia đình công giáo về ruộng đất chỉ có quyền giữ 300m vuông, nếu có hơn, phần trội sẽ thuộc về làng.
– Người công giáo không có quyền giao dịch thương mại với anh em bên lương.
– Không có quyền sắm thuyền để buôn bán. Không có quyền lên miền Thượng và không có phép kết bạn với người công giáo.
– Ở trong những làng công giáo nhà nước sẽ phái đến một ông thầy để dạy họ lễ nghi của đạo Bụt đạo ông bà…và chính người công giáo phải chịu phí tổn để nuôi ông thầy ấy.”

Kế đó GM Cuenot cho thấy đến mức nào sự sợ sệt cản bước tiến của đức tin, Ngài cho biết tình thế khổ sở của Ngài năm 1854.

“Trước tình hình như vậy, con buột phải rút lui. Phải vượt ra khỏi sự phong tỏa khắc nghiệt không cho ra khỏi tỉnh. Nếu con đã trốn thoát được không có nghĩa con đã không ở sát nách kẻ thù đâu. Con có thể nói năm 1854 con đã đau khổ và gặp nguy hiểm nhiều hơn cả 22 năm cấm đạo trước đó.”

Ngài tâm sự với gia đình là “Ngài đã lâm bệnh do các nơi Ngài buộc phải trú ẩn, ẩm thấp và không còn hợp vệ sinh.”
Các thầy giảng bị bắt (chúng ta đã thấy vai trò của họ quan trọng như thế nào), bổn đạo bị tản mác, đất đai bị tước bỏ, nhà thờ bị phá hủy. Thậm chí cả ngôi nhà làm trạm nghỉ chân ở Trạm Gò trên đường lên làng thượng cũng bị đập phá, khi Lm Verdier đến nơi, Ngài buộc phải tá túc trong rừng. Ngày 9.2.1854, Giám Mục viết cho ông Bác ở chủng viện:

“Con đã trải qua một cuộc bắt đạo đẫm máu đã bắt đầu từ tháng 8 năm rồi. Hiện nay thì cuộc khủng hoảng chỉ mới bắt đầu tại Bình Định va Phú Yên, nhưng rồi đây nó sẽ lan tràn trong cả nước.”

Bức thư này Lm Cuenot chưa được đọc, ông đã chết trước khi thư tới tay.

00000

Điều gì đã giúp GM Cuenot trông cậy? Điều gì “an ủi” Ngài trong hoàn cảnh ác liệt như thế này?
Niền an ủi nâng đỡ Ngài chính là lòng sốt sắng của những Kytô hữu: giáo dân cũng như linh mục, nhờ họ bao lần Ngài đã thoát chết. Họ như men trong bột mặc dù xét về số lượng thì họ chìm đắm mất hút giữa những người bên lương. Sau đây là lời chứng của một người bên lương. Mặc dù không chấp nhận công giáo ông phải nhìn nhận rằng đạo sản sinh ra nhiều hoa quả tốt và ông lớn tiếng trình lên vua. Đó là Nguyễn Đăng Giai, quan kinh lược miền Bắc:

“Đây là phương pháp người công giáo thường dùng để tuyên–truyền đạo: trước nhất họ làm cho nhiều người đàn ông theo đạo, tất nhiên cả gia đình người đàn ông ấy cũng theo đạo. Ban đầu chỉ có vài gia đình công giáo, với thời gian cả ấp, rồi cả làng đều có đạo công giáo; và cứ lặng lẽ họ đã đi đến con số khổng lồ ngày nay. Người công giáo nuôi nấng những kẻ bần cùng, đói rách, giúp đỡ những người đau khổ xác hồn. Họ tụ tập lại để đưa xác kẻ qua đời đến nơi an nghỉ cuối cùng. Không kể màu da nước tóc, họ vẫn coi nhau như phần tử của một thân hình, vì thế những ai theo tà đạo, người ấy lấy làm thích thú và không sao bỏ đạo được. Vả lại, người công giáo thấy những kẻ không công giáo, ở ngoài xã hội phải làm việc quá nhọc, trong gia đình phải khổ cực trăm bề, cha mẹ con cái, bà con không giúp đỡ lẫn nhau, cả ngày say đắm trong tài sắc, sống trong bất công và hằn thù ghen ghét nhau.
Vì vậy không lạ gì mà họ nhất định không xuất giáo. Cái điều đáng sợ là một ngày kia vì nhận thấy bao nhiêu người công giáo tốt lành, nhiều kẻ sẽ xin đi đạo.
Sách của chúng về mặt văn chương chẳng có gì đáng kể, nhưng những sách ấy không dạy điều gì trái ngược luân thường đạo lý. Sách ấy không hại đến xã hội. Tất cả lời lẽ trong sách đều có một mục đích: “Đem hạnh phúc cho loài người”. Mặc dù người công giáo có nhiều điều sai lầm nhưng họ sống trong bình an. Họ trả thuế đàng hoàng và ít khi bắt được người công giáo làm nghề ăn trộm hay nghề phiến loạn. Tối sáng bọn chúng đọc kinh, đêm cũng như ngày chúng ra sức cải thiện đời sống của mình để được phúc thiên đàng. Chỉ vì sai lầm như thế, hỏi có nên trừng trị họ một cách quá nghiêm khắc không?”

Trong số người Kytô hữu, các Dì Mến Thánh Giá cũng đã luôn luôn là người cảm kích cho GM Cuenot. Việc thành lập Dòng tu này được dự tính cho Thái Lan năm 1666, lại được triển khai trên đất An-nam. Bốn Dì người Bình Định đã lưu lại tên tuổi cho hậu thế: Dì Tim, Ta, Mi, Sang. “Bị giải tán nơi này, họ đến thành lập nơi khác”. Ngày 17.2.1851, GM Cuenot viết cho em gái mình tên là Dauphine, nữ tu ở Nhà Tĩnh Tâm:

“Ở trong giáo phận của Anh có tất cả là 400 Dì Mến Thánh Giá chia làm 15 nhà. Họ không được ai chăm sóc cả và không có được dù 1/50 những phương tiện nên thánh mà em có ở nhà Tĩnh Tâm. Anh đã gửi khoảng 100 Dì lên Miền Thượng lo cho các phụ nữ trên ấy. Họ rất nhiệt tình….Còn đối với các nữ tu người Âu, hiện nay không thể nào đón nhận họ ở đây được.”

Quan hệ với quê hương không thường xuyên và nhiều như người đồng hương mong muốn. Chỉ có một dịp mỗi năm để gửi thư: “Khi anh gửi chiếc “buồm dọc” đến Xinh-ga-po để đưa học sinh và rước các vị thừa sai và đem lương thực về”. Âm sắc giọng điệu của những bức thư rất trang nghiêm, gần như khắc khổ luôn mang những tư tưởng về đời sống vĩnh cữu. Thậm chí GM yêu cầu một người em là nữ tu đừng để lòng mình dính bén vào việc gia đình. Đó là chuyện thời sự chăng? Hay là Ngài nhớ đến chuyện năm xưa Ngài đã quá bận tâm đến gia đình đến độ không còn tự để đeo đuổi ơn gọi nữa chăng? Ngài không bao giờ lật lại trang quá khứ đau thương đó nữa. Mỗi năm Ngài cho gia đình biết về sức khỏe của Ngài, nói về công cuộc truyền giáo, hỏi thăm tin tức các em, bà con và các linh mục bạn. Trái tim Ngài xúc động hơn mỗi lần viết thư cho cô Jeanne-Baptiste. Cô là người mẹ thứ hai của Ngài. Ngài nhớ cô đã đưa Ngài về nuôi lúc còn bé để được đi học, khi bố đang là nhân viên thuế vụ…Ngài còn nhớ cuộc hỏa hoạn ở Bélieu năm 1810…hôm sau, đứa nhóc là Ngài lúc bấy giờ chạy về hoảng hốt báo cho cô biết: “không còn nhà ở Bélieu nữa.” Trong bức thư cuối cùng đề ngày 18.3.1857 Ngài tâm sự, Ngài xúc động vì cái chết của cô “một tâm hồn thánh thiện”.
Ngài luôn biết ơn cô. Mẹ Ngài qua đời từ năm 1838, mẹ của 11 đứa con mà Ngài là con đầu. Ngài an ủi Bố: “Bố đừng nhọc công xin lễ cho Mẹ, Con sẽ lo việc ấy. Mẹ chỉ đường cho chúng ta”. Bà đã hy sinh nhiều cho đứa con của mình. Gia tài lương thiện của cha mẹ cho đã tan như sáp trước tai họ làm ăn đầu tiên. Bà đã đổ hết của hồi môn để lo lót cho chồng, bị buộc tội dưới đệ nhất đế chế. Bà cũng đã bán chiếc áo cưới của mình để may áo chùm thâm cho cậu chủng sinh thần học là Étienne lúc bấy giờ. Cậu đã hứa: “Con sẽ biếu Mẹ một chiếc áo đẹp hơn”. Và cậu đã giữ lời hứa. Khi đến Aix, linh mục Étienne đã dùng tiền lễ gửi về, nhờ Bố sắm cho Mẹ một chiếc áo thật đẹp, như đã hứa….
Quan hệ của GM Cuenot với người bạn thời thơ ấu, Gilbert Cuenot (1795-1858) đượm tình thân ái vui tươi và phó thác tín nhiệm. Gilbert lớn hơn Ngài 8 tuổi, họ hàng về phía bên Nội. Chính với người anh họ này mà Giám Mục tâm sự về sức khỏe giảm sút của mình, ví dụ năm 1847:

“Sự suy yếu của tuổi già đã đến. Chòm râu của tôi trắng xóa. Chân tôi gần như từ chối phục vụ: điều đó cũng do tôi ít dùng tới chúng. Tôi cần cặp kính…”
Năm 1851: “Sao? Anh đã để Lm Arnoux lên đường đi Nam Kỳ mà chẳng viết cho tôi vài chữ sao? Quá lắm đó? Rõ ràng là anh chỉ sợ có chiếc gậy của (Giám Mục) Besançon thôi.”

Mồng 7.3.1856, họ chia sẻ một cái tang chung: cái chết của Ông Bác, Lm Charles Cuenot Giám Đốc Đại chủng viện. Ông này luôn vẫn là “vị ân nhân yêu quý và người cha nơi Đức Giêsu Ki tô”…Thư từ hằng năm nhận được của Étienne Cuenot là một nguồn sử liệu cho phép theo dõi vị thừa sai. Được tin Bác bệnh…, ngày 22.2.1853, Ngài viết thư:

“Cha rất quý mến nơi Đức Giêsu Kitô, trên trời cha sẽ là cha của con như cha đã từng là cha của con dưới đất.”
Rồi cho Gilbert ngày 7.3.1856: “Thế là anh và tôi chúng ta đều mồ côi cả hai. Bác Cuenot đã bỏ chúng ta ở đó, để về trời. Ngài ra đi, hai tay đầy công đức. Khi tôi điểm lại bao nhiêu ân nghĩa tôi mang đối với Người, thật tôi lấy làm xấu hổ vì ít nói lên lòng biết ơn của mình. Chính ở đan viện Montbenoit mà tôi bắt đầu cảm thấy tấm lòng vàng của Người. Chính Người đã lo cung cấp phương tiện cho tôi ăn học như anh biết. Tôi nhận được tin từ Ro-ma qua Hồng Y, rồi qua lm. Busson….”

Giám Mục còn nhớ chăng một bức thư gủi từ Aix về chủng viện Besançon cho Ông Bác:

“Nếu Bác trách con về tính tình cứng cỏi đến ngoan cường nơi con, thì rồi đây con sẽ cố gắng biến nó thành một đức tính mà người ta gọi là: sự kiên trì”.

Khi người ta nói với vị Giám Đốc về những chủng sinh đã qua chủng viện, mà Ngài đã biết, Ngài nở một nụ cười và nói:

“Tôi thú nhận rằng một lần tôi đã bị ít là một tên đánh lừa tôi, nhưng trong điều tốt. Đó là Étienne Théodore Cuenot.”

Lòng tín nhiệm của Étienne đối với vị linh hướng của mình bộc lộ lòng tín nhiệm đối với Giáo Hội. Giám Mục đặc biệt chú ý đến những chỉ thị được ban hành. Thậm chí không khỏi ngạc nhiên khi thấy Ngài xin phép Tòa Thánh được miễn chước về những điều mà một người khác có lẽ sẽ mạn phép “một cách thỏa mái”. Chúng ta lưu ý đến một điểm: sự gắng bó của Ngài với Hội Thừa Sai. Hồi ký của Hội ghi lại, khi nghe tin Ngài qua đời: “Mặc dù rất bận rộn với công việc của giáo phận, dưới thời bắt đạo Ngài nghiên cứu và thường xuyên cho ý kiến về sự tiến triển của Hội và vì thời đó đang xét lại bản điều lệ, Ngài đã nhiều lần cho ý kiến của mình.
Ngài tiếp đón những vị thừa sai mà bề trên gửi đến. Một bức thư gửi Gilbert Cuenot, ngày 20.6.1847 viết:

“Tôi rất vui khi thấy một vài vị đồng hương đến trong xứ truyền giáo của mình. Nhưng tôi sẽ không làm gì để có được, hơn các người từ nơi khác đến. Suốt đời tôi cảm thấy an tâm khi phó mặc cho Chúa Quan Phòng trong mọi sự và mọi nơi và sẽ hết sức tránh hành động cách khác.”

Sự gắn bó yêu mến Hội Truyền Giáo nơi Ngài thắm thiết đủ để cho phép Ngài can thiệp mạnh mẽ hơn, ví dụ năm 1847 khi bản điều lệ mới ra đời, GM Cuenot ước mong có được một bức thư chung báo cáo về những sửa chữa và sự chấp thuận tổng quát về bản văn: Ngài cảm thấy nhu cầu lấp đầy khoảng cách xa xôi bằng những quan hệ trong sáng và huynh đệ.
Cầm cự trong niềm cậy trông: qua bao thế kỷ, điều đó chỉ có thể thực hiện được trong một bầu khí giáo hội.
“Lúc đó mình mới thật sự là tín hữu…từ các nghĩa địa trở về sau khi đưa xác những vị tử đạo, chúng tôi trở về trong…Giáo Hội của mình, toàn thể được tập họp ở đây, bất khuất, khi các dự tòng được dạy dỗ ở giữa các vị tử đạo…Lúc ấy những tín hữu còn ít người chắc chắn là vậy, nhưng họ thật sự là những tín hữu, đang lần theo con đường hẹp và dốc dẫn tới sự sống.” (Lời của Origène được Hồng Y Etchégaray trích dẫn).

[1] Giám Mục Pellerin trả lời rõ ràng: “Người công giáo không lật đổ vua chúa, ở đâu họ cũng muốn là những kẻ tôi trung của nhà vua, Hoàng Bảo sẽ biết đến lòng trung thành của họ nếu ngày nào ông được lên ngôi trị vì.” (Launay “Giám Mục Retord” trang 231)

(Còn tiếp)
GPKONTUM (17/06/2018) KONTUM

%d bloggers like this: