Home > Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu > Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Lời Nói Đầu – Phần 1 Chân Dung.

Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Lời Nói Đầu – Phần 1 Chân Dung.

11/07/2018

Trong Năm Thánh Kính 117 Vị Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam (2018),
chúng tôi xin trích dẫn một số đoạn trong sách “HẠNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM” (2018)
– HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM- 
-Giám Mục PHÊRÔ NGUYỄN VĂN KHẢM  Chủ Biên-
NXB Tôn Giáo, để mọi tín hữu noi theo gương anh hùng của các Ngài một cách cụ thể hơn.
Mong những đoạn trích dẫn này hữu ích và nung nấu đức tin cách sống động
cho mọi người tin vào “DANH GIÊ-SU”trong thời đại hôm nay.
NAY KÍNH MONG

 

LỜI NÓI ĐẦU

Trong Thư Công bố Năm Thánh tôn vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ký ngày 01/05/2018, khi khuyến khích anh chị em tín hữu chiêm ngắm và học hỏi gương sống đức tin của Các Thánh Tử Đạo, Hội đồng Giám mục Việt Nam viết: “Để đồng hành với anh chị em trong việc học hỏi này, Văn phòng Hội đồng Giám mục sẽ phổ biến tập sách Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ghi lại vắt tắt gương sống đức tin và cuộc tử đạo của các thánh. Ước mong tập sách nhỏ này sẽ được mọi người nhiệt tình đón nhận”. Nay chúng tôi xin gửi tập sách này đến mọi tín hữu Công giáo Việt Nam như lời đã hứa.


Nội dung sách gồm hai phần chính. Trước hết là phần giới thiệu tổng quát về đời sống và sinh hoạt của các tín hữu Công giáo tại Việt Nam trong giai đoạn Giáo hội bị bách hại. Từ đó, ta có thể khám phá ý nghĩa của Tử Đạo như một chứng tá đức tin và hiến tế tình yêu, được bày tỏ cụ thể nơi đời sống và cái chết của các Thánh Tử Đạo.
Kế đó, chân dung của từng vị trong 117 Thánh Tử Đạo (và Chân phước Anrê Phú Yên) được trình bày vắn tắt và cô đọng. Phải nhìn nhận rằng cho đến nay, do hoàn cảnh khách quan, việc nghiên cứu lịch sử Giáo hội tại Việt Nam nói chung và tiểu sử Các Thánh Tử Đạo nói riêng chưa được tiến hành cách khoa học. Với nguồn sử liệu có được cùng với sự cộng tác của các chuyên viên, góp ý từ các giáo phận, chúng tôi cố gắng ghi lại những nét chính yếu trong đời sống và cuộc tử đạo của mỗi vị thánh, với ước mong lột tả được phần nào tâm tình của các ngài khi bước theo Chúa Giêsu trên đường thập giá, để tâm tình đó trở thành tiếng gọi gửi đến mỗi chúng ta.
Trong tập sách này, danh sách Các Thánh Tử Đạo được xếp theo thứ tự bảng chữ cái, đồng thời chúng tôi cũng cung cấp một danh sách theo thứ tự ngày và tháng trong năm, để độc giả có thể dễ tìm thấy tên của vị thánh được kính nhớ trong ngày.
Ngoài ra, không thể không nói tới Bài giảng của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong ngày lễ tuyên phong hiển thánh 117 Chân phúc tử đạo Việt Nam, 19/06/1988. Bài giảng quan trọng đó vừa làm sáng lên vẻ đẹp và sự vĩ đại của Các Thánh Tử Đạo, vừa phác họa một hướng đi cho Giáo hội Việt Nam trong giai đoạn mới. Bản dịch tiếng Việt trước đây do Đức Ông Trần Ngọc Thụ thực hiện, nay Văn Phòng thư ký HĐGM hiệu đính và xin gửi đến quý độc giả.
Xin chân thành cảm ơn cha FX. Đào Trung Hiệu OP, cha Trần Anh Dũng (Paris), cha Gioan kim khẩu Phan Văn Định, cha Giuse Lê Ngọc Ngà, cha FX. Nguyễn Văn Thượng, cha Bênađô Nguyễn Xuân Hải, cha Antôn Phan Văn Đại, cha Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, ông Phaolô Nguyễn Hạnh, ông Gioan Lê Quang Vinh, ông Giuse Nguyễn Nghị, ông Đaminh Trần Đức Hùng đã tham gia biên soạn và tặng tác quyền cho HĐGMVN, cùng nhiều giáo phận đã góp ý chỉnh sửa cho tập sách này. Vì những lý do khách quan, chúng tôi chưa thể liên lạc tác quyền hình ảnh, xin quý tác giả vui lòng thông cảm.
Xin cảm ơn quý độc giả xa gần đã và sẽ đón nhận tập sách này làm bạn đồng hành. Chắc chắn việc biên soạn tập sách này còn nhiều thiếu sót, ước mong đón nhận được những góp ý chân thành của quý độc giả, để công việc chung ngày càng tốt đẹp hơn.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018
Phêrô NGUYỄN VĂN KHẢM
Tổng thư ký HĐGMVN

PHẦN 1

CHÂN DUNG

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO
TẠI VIỆT NAM

I. HỌ ĐÃ SỐNG NHƯ THẾ NÀO

Theo chuyên ngữ, “Martyr” có nghĩa là nhân chứng. Trừ một vài vị tử đạo nhờ ơn Chúa đặc biệt để có được một quyết định quả cảm bất ngờ trước thử thách, còn thông thường, cuộc đời của họ đã là một chứng từ, một quá trình hợp tác với ơn Chúa, trước khi phải làm chứng cho Ngài bằng máu đào.
Giai đoạn lịch sử thời 117 thánh Tử Đạo Việt Nam kéo dài đúng 117 năm, tính từ hai vị tử đạo tiên khởi năm 1745 (Phanxicô Federich Tế và Matthêu Liciniana Đậu) đến vị cuối cùng năm 1862 (Phêrô Đa), qua các triều đại vua Lê – chúa Trịnh, Cảnh Thịnh và triều Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức). Nếu xét lịch sử Giáo Hội Việt Nam theo niên biểu 1533, khởi đầu bằng giáo sĩ I-ni-khu được nhắc đến trong Khâm Định Việt sử, thì thời các thánh tử đạo phải nói là hoa quả của hơn hai thế kỷ LỜI THIÊN CHÚA đã được gieo trông trên quê hương Việt Nam. Trong đó gần một thế kỷ đi vào tổ chức nề nếp (từ 1659) khi có hai giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, rồi từ năm 1668 có linh mục bản xứ. Vì thế có thể nói, Giáo hội đã có những chọn lựa cách sống tương ứng với giai đoạn lịch sử của mình.
Theo thống kê 1855, Giáo hội Việt Nam có 426.000 tín hữu, chiếm tỷ lệ 4% dân số , rải rác từ trấn Kinh Bắc, qua miền Thượng du cho đến Châu đốc, An Giang. Xét về thành phần tử đạo, ngoài các giám mục, linh mục chuyên lo về tôn giáo, ta thấy có đến 44 giáo hữu thuộc nhiều tầng lớp người dân. Quan trường có thánh Hy, quan án có thánh Khảm, quân ngũ có các cai đội hoặc chưởng vệ, xuống đến những binh sĩ tầm thường. Hương chức có những chánh tổng, lý trưởng. Xét về nghề nghiệp ta thấy có lang y, thương gia, có thợ may, thợ dệt, thợ mộc, cả dân chài,nhưng đông đảo nhất vẫn là giới nông dân (10 vị).

Để trả lời câu hỏi: các thánh tử đạo đã sống thế nào, chúng ta có thể chú ý đặc biệt đến năm vấn đề sau:

1. Thân ái với mọi người

Người Việt Nam thường nói: “Phép vua thua lệ làng”. Mặc cho triều đình nhà Nguyễn ra những chiếu chỉ bách hại, dấu hiệu tình thân giữa bà con làng xóm đối với người Công giáo là sự kiện quá rõ rệt. Thí dụ trong vụ án linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục từng nói: “Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức, thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cỗ quan tài để biểu lộ lòng tôi quý cụ.”
Chuyện hai linh mục Thi và Dũng Lạc, quan huyện Bình Lục nói: “Các ông là quan bên đạo, tôi quan bên đời”, rồi cho lệnh cởi trói và cho dọn cơm bằng mâm bát của mình. Đến khi có áp giải hai vị về Thăng Long, quan lập đàn tế lạy trời phật để thanh minh mình vô can trong vụ án.
Đặc biệt linh mục Vũ Bá Loan, niên trưởng 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng “cụ”, ngài không bị đánh đòn, và trong ngày xử, mười lý hình bỏ đao chạy trốn, đến người thứ mười một, đã lịch sự xin phép: “Việc vua truyền cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho. Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái. Khi về trời cụ nhớ đến cháu nhé”.
Nhờ đâu ông câu Lê Văn Phụng, mỗi lần quan huyện đi truy lùng lại cho người đến báo trước? Nhờ đâu linh mục Lê Bảo Tịnh được quan tổng trấn cho giấy phép mở chủng viện? Nhờ đâu tín hữu miền Nam suốt thời Minh Mạng không có ai trong số 117 vị tử đạo? Nhờ đâu khu vực dòng Đa Minh bình an đến năm 1838 và hầu như an bình từ năm 1841 – 1856? Nhờ đâu các giám mục như Hermosilla Vọng, từng được nêu đích danh trong chiếu chỉ nhà Vua, vẫn được an toàn hơn 20 năm? Thưa, nhờ các quan chức địa phương không đánh giá đạo Công giáo như nhà vua và nhờ những căn nhà “lương dân” luôn mở rộng cách hào hiệp.
Ngay cả khi vua Tự Đức đã ra chiếu chỉ phân tháp ngày 5-8-1861, phân tán các tín hữu, giao cho lương dân quản lý cả người lẫn của cải, thì Hội Thánh vẫn tồn tại nhờ nhiều người không theo lệnh vua. Như lương dân làng Hảo Hội, đã che giấu và tiếp tế cho nhiều chủng sinh ở Kẻ Mốt đến ẩn trốn . Con số hàng chục ngàn người bị giết trong giai đoạn này là lớn, nhưng đó chỉ là tỷ lệ vài phần trăm, còn trên 90% giới Công giáo vẫn còn sống sót qua cơn “hồng thủy”.
Chính trong bối cảnh thân ái của đại quần chúng bình dân Việt Nam, đầu thế kỷ XIX mà các tín hữu có nhiều cơ may thể hiện sự gắn bó, tinh thần phục vụ và lòng bác ái của Tin Mừng. Những cuộc truy lùng thường xuyên của triều đình đã giúp các nhà thừa sai sống sót với tinh thần nghèo khó của người tông đồ và gần gũi với dân lao động trong các làng quê, sau lũy tre xanh. Đến Việt Nam, các vị liền lo việc học tiếng Việt và phong tục . Rồi sau đó các vị ấy cũng ăn nước mắm, ăn tương, ăn cà, cũng nón lá, áo bà ba, áo khẩu…sống với dân Việt, sống như dân Việt, có vị suốt 15 năm không đụng đến một miếng thịt. Thế nhưng các vị vẫn vui tươi. Thừa sai Gagelin Kính gửi thư về nhà: “Những thiếu thốn, những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi dám khẳng định rằng: tôi được hạnh phục trong túp lều tranh của tôi hơn vua nước Pháp trong hoàn cung của ngài”.
Đại đa số giới Công giáo thuộc thành phần nào? Thưa, là những người nông dân tầm thường nhất, mỗi ngày lam lũ lao động để làm xanh mảnh đất quê hương. Linh mục Khuông từng tuyên bố: “Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng.”

2. Tôn trọng vua quan và hết lòng yêu mến quê hương

Hội nhập vào nền văn hóa Á Đông theo chế độ xã hội gia trưởng, Giáo Hội Việt Nam đã có nết suy tư sáng tạo đặc biệt. Ngay từ thời linh mục Đắc Lộ, tín hữu Việt Nam đã coi nhà cầm quyền như một người cha, mọi người đều là con trong đại gia đình dân tộc . Linh mục Nguyễn Văn Tự đối đáp với quan tòa: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”.
Dĩ nhiên trong bối cảnh lịch sử “thượng tôn Tống Nho” của nhà Nguyễn, thì việc đề cao chữ hiếu hơn chữ trung dduer làm cho triều đình khó chịu. Vì khi đề cao hiếu hơn trung, người Công giáo tuân lệnh vua một cách có suy nghĩ, có lựa chọn, tuân giữ luật lệ hợp lý, nhưng bạo dạn phản đối điều nghịch lý trái với lương tâm mình. Dầu sao giới Công giáo không tổ chức nổi loạn, bạo động. Giám mục Feliciano Alonso Phê, trong Thư chung năm 1798, xác định khí giới đánh giặc đang bách hại “chẳng phải là súng ống gươm giáo đâu, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái” .
Đức cha Sampedro Xuyên ra vạ tuyệt thông cho ai tổ chức bạo động và buộc những ai Vu cáo ngài cổ động nổi dậy phải cải chính công khai . Giám Mục Hemosilla Liêm nhắc nhở các tín hữu phải tuân giữ luật nhà phép nước, còn nếu bị vu cáo tội chính trị thì cứ an tâm, vì Đức Giêsu xưa từng bị dân Do Thái lấy cớ chính trị để giết chết (Ga 19,12). Ngài viết “…Phô con đừng hòa tập với giặc, đừng nghe chúng nói dối dá đấng ấy khác sai chúng nó, vì cái ấy là không hẳn” .
Là dân trong nước, các tín hữu sẵn sàng thi hành nghĩa vụ công dân, từ thuế khóa cho đến gia nhập quân ngũ. Năm 1838, tại tỉnh Nam Định, quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã tụ tập được 500 binh sĩ Công giáo để bắt đạp lên Thánh Giá. Trong quan trường, chiếu chỉ tháng 9 năm 1855 ra lệnh sàng lọc các quan Công giáo, cấm đạo đồ đi thi hay nhận chức vụ trong làng trong tổng . Thế mà sáu năm sau (1861), trong một đợt thanh trừng, triều đình còn bắt được 32 viên quan, ba người chối đạo, 18 bị giết, 11 bị án lưu đày .
Các thừa sai Pháp sẵn sàng làm nhân viên thông dịch cho nhà vua. Chính Minh Mạng định phong các ngài làm quan chức trong triều đình. Linh mục Gagelin Kính đại diện anh em từ chối đặc ân đó: “Tuy nhiên, những việc nào có thể dung hòa với nhiệm vụ linh mục của tôi, tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua”. Thừa sai Jaccard Phan liên tục giúp vua 10 năm, dù bị lãnh ba án tử hình: lần đầu vua giảm thành án xung quân để dịch sách, lần hai đổi thành án lưu đày chung với thừa sai Odorico Phương dòng Phanxicô, vị này chết nơi rừng thiên nước độc, còn ngài vẫn sống sót và tiếp tục dạy sinh ngữ và dịch sách cho hoàng triều. Cha Jaccard Phan tử đạo vào ngày 21-09-1838. Trước đó, nhiều người khuyên cha bỏ trốn, ngài nói: “Không bao giờ, tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện để thắng điều ác.”
Cuốn Giáo lý đầu tiên cho người Công giáo Việt Nam, “Phép giảng tám ngày” (1651), của cha Đắc Lộ đã khẳng định các tín hữu theo đạo Thiên Chúa, đạo của mọi quốc gia chứ không phải đạo Phú Lãng Sa . Đến thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786), trong cuộc tranh luận bốn tôn giáo, được ghi lại trong cuốn “Hội đồng tứ giáo” , hai linh mục Gia và Liêm đã trả lời vấn nạn “Đạo Hoa Lang là đạo ngoại quốc” rằng: “Chớ thì đạo Phật chẳng từ Ấn Độ, đạo Nho từ nước Lỗ, đạo Lão chẳng từ đời nhà Châu ở Trung Hoa sao?” và khẳng định: “Chẳng có đạo nào là đạo Hoa Lang, đạo chúng tôi là đạo Thiên Chúa, chúng tôi ước ao thiên hạ mọi nước đều biết”. Linh mục Vũ Bá Loan trình bày điều đó với quan: “Tôi chẳng theo đạo của một nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời đất, Chúa của muôn dân thôi”.
Cũng vậy, khi quân đội Pháp tiến vào Đà Nẵng năm 1858, giới Công giáo không hề chủ trương làm nội ứng . Ngược lại, đông đảo người Công giáo tình nguyện đi bảo vệ non sông. Có điều, vua Tự Đức đòi hỏi họ muốn tham chiến phải bỏ đạo trước đã. Tháng 7-1857, có 14 binh sĩ, một bỏ đạo, 13 bị lưu đày. Tháng 4-1858, trong nhóm 20 binh sĩ, 4 bỏ đạo, 16 lưu đày. Và khi tàu Pháp đến, 193 binh sĩ Công giáo chuẩn bị lên đường xuống Đà Nẵng, vì không chối đạo, đã lãnh án chung thân. Một vị tử đạo thời này là binh sĩ Trần Văn Trung, đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố: “Tôi là Kitô hữu tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, những bỏ đạo thì không bao giờ” .

3. Sống Tin Mừng yêu thương

Thế nhưng chân dung đích thực của các vị tử đạo nổi bật ở lòng yêu thương. Với người “có đồng ăn đồng để” như y sĩ Phan Đắc Hòa, ông rộng rãi giúp người nghèo khổ, riêng bệnh nhân túng thiếu, không những ông chữa bệnh miễn phí, lại còn giúp tiền giúp lúa. Với ông Martinô Thọ thì:“Công bằng chưa đủ, phải có bác ái nữa, mà muốn thực thi bác ái phải có điều kiện”, và ông trồng thêm vườn dâu kiếm tiền giúp người thiếu thốn. Người cùng tử đạo với ông là Gioan Cỏn từng mạnh dạn đấu tranh cho người nghèo chống lại một lý tưởng đòi sưu cao thuế nặng. Ông Năm Thông là ân nhân của viện cô nhi trong vùng. Ông Trùm Đích thường xuyên thăm viếng trại cùi và sẵn sàng nuôi người mắc bệnh dịch tại nhà mình.
Nếu tình thương bác ái đã được Đức Giêsu coi là dấu chỉ của những môn đệ Ngài (Ga 13, 35), ta không lạ gì khi linh mục Emmanuel Triệu sẵn sàng nhường tiền cho bữa ăn như ân huệ trước giờ xử tử: “Xin cầm tiền và gửi cho người nghèo dùm tôi” Linh mục Phan Văn Minh dặn đừng tổ chức an táng lớn, để dành tiền giúp người bần cùng. Linh mục Khanh trong tù sẵn sàng chữa bệnh cho thân nhân viên cai ngục và giám mục Henares Minh đi đâu cũng mang theo tráp thuốc chữa bệnh miễn phí.
Với ông Cai Tả thì yêu thương để xứng với tình Chúa yêu. Ông thường châm chước cho những người mắc nợ và nói: “Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình”. Với ông Năm Quỳnh thì bác ái rõ rệt là hoa quả của đức tin, ông từng nói với gia đình: “Bà và các con không đồng ý cho tôi lấy của nhà để giúp người nghèo, tôi sẽ đi vay mượn hoặc làm thuê kiếm tiền giúp đỡ họ”, vì ông nói: “Tôi chưa thấy ai hay giúp người nghèo khó lại túng bần bao giờ. Kinh Thánh chẳng dạy chúng ta phải coi họ như chi thể của Chúa đó sao? Chúa đã cho chúng ta sống, tất sẽ quan phòng cho ta đủ dùng”.
Với quan Hồ Đình Hy thì: “Đừng làm việc thiện cách máy móc qua lần chiếu lệ, mà phải làm với thiện ý”. Ông từng chăm sóc nuôi nấng một người bệnh bơ vơ, suốt 15 ngày sáng tối thăm hỏi, và khi người bệnh lìa đời, ông đã tổ chức lễ an táng tử tế. Ông cũng nuôi hai bé gái bị bỏ rơi cho đến khi trưởng thành, một xin đi tu, một xin lập gia đình, ông quảng đại lo đến nơi đến chốn.
Chúng ta còn học hỏi được nơi các tín hữu thời tử đạo hai mẫu gương bác ái tập thể:
– Thứ nhất là phong trào Thánh Nhi (Saint Enfant). Mọi người thi đua nhau, nhất là các y sĩ, các dì phước và các bà đỡ tìm mọi cách rửa tội cho trẻ em bệnh nặng chết yểu. Họ thăm nom, săn sóc nuôi nấng, thuốc men và tổ chức an táng. Nếu các em sống sót, họ dạy giáo lý và nghề nghiệp cho đến khi tự lập được. Nhiều gia đình rất quảng đại nhận trẻ mồ côi làm con nuôi. Năm 1843, Giáo phận Đàng Trong rửa tội 8273 em . Năm 1855, Giáo phận Trung Đàng Ngoài rửa tội được đến 35.349 em
– Mẫu gương thứ hai thể hiện trong các mùa dịch toàn quốc năm 1850-1851: Các tín hữu có mặt bên giường những bệnh nhân, đưa họ đi nhà thương chăm sóc. Đó là giai đoạn các linh mục đi lại tự do. Thậm chí ngay tại kinh đô Phú Xuân, người ta được chứng kiến những nghi lễ an táng trọng thể, đi đầu là thánh giá nến cao, tiếp đến hai hàng tín hữu, rồi linh mục với phẩm phục khăn choàng, họ vừa đi vừa hát vang lên bài thánh ca tiễn biệt.
Dù chư đi sâu vào mẫu gương trong các cuộc tử đạo, thì những gương mẫu gương yêu thương của các tín hữu đầu thế kỷ XIX với mảnh đất và con người Việt Nam, đối với Giáo hội hôm nay, cũng đủ là một di sản quý giá thôi thúc kêu mời chúng ta phải phát huy, với những cách thế hữu hiệu và cụ thể hơn, để phục vụ tha nhân nhất là những người cùng khổ.

4. Mặn nồng tình nghĩa gia đình.

Một trong những đóng góp của giới Công giáo vào cơ chế pháp lý gia đình Việt Nam là luật lệ một vợ một chồng. Trong giai đoạn văn hóa quá ảnh hưởng Nho giáo “trai năm thê bảy thiếp”, các tín hữu đã góp phần đề cao đạo đức thủy chung của dân tộc trong truyện trầu cau. Dĩ nhiên không phải mọi tín hữu đều trung thành với lời cam kết hôn nhân, như ông Gẫm, binh sĩ Hy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy…đã có thời gian sa ngã, thế nhưng tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.
Trong danh sách 117, trừ một số theo đạo khi đã trưởng thành, còn những ai sinh ra trong gia đình Công giáo đều được rửa tội và giáo dục đức tin ngay từ bé. Thầy Đaminh Úy từng mạnh dạn tuyên bố, giữ vững niềm tin là giữ đạo cha ông: “Nếu tôi cả gan bước lên Thánh Giá, thì tôi xúc phạm đến Chúa và bất hiếu với mẹ cha vì song thân sinh ra tôi đã dạy tôi trung thành với niềm tin cho đến chết”.
Nói chung, khi bị bắt, các vị tử đạo không thoát khỏi tình cảm quyến luyến với người thân, có điều các vị chọn lựa Thiên Chúa và tin tưởng phó thác người thân cho Ngài. Nhiều vị đang bị giam được về thăm gia đình, đã bình tĩnh khuyên vợ con vui vẻ cho mình được tử đạo, rồi tự động trở vào tù như các ông Dũng, Thuần, Ngôn, Năm Thuông. Ta có thể thấy điều đó trong vài di ngôn cuối cùng như sau:
– Ông Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù: “Các con thân mến, cha không còn làm gì giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón nhận những thử thách cuối cùng. Ý Chúa đã muốn lìa xa các con mãi mãi, nhưng các con còn có mẹ, hãy cố gắng vâng lời mẹ.Các con lớn hơn nhớ quan tâm săn sóc em mình. Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị. Hãy thương yêu nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Hãy nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân Côi hằng ngày. Chua trao cho mỗi người một thánh giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo”.
– Y sĩ Phan Đắc Hòa nói: “Cha yêu thương các con và hằng chăm sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy vui lòng vâng ý Chúa đừng buồn làm chi. Các con ở với mẹ, yêu thương nhau và chăm lo việc nhà…”
Nói đến tình nghĩa gia đình, chúng ta khó có thể quên một số hình ảnh như: linh mục Triệu vì thương mẹ già ở lại Huế ba tháng dựng nhà cho mẹ, vì thế mới b bị bắt. Ông đội Trung có con gái được phép ở trung tù chăm sóc, nhưng ông bắt con về để kịp học giáo lý với bạn bè trong xứ. Ông Trùm Phụng tại pháp trường gặp lại con gái, cô Anna Nhiên, đã đeo cho con ảnh thánh giá ở cổ mình và nói: “Con hãy nhận lấy kỷ vật của Ba. Đây là ảnh Đức Giêsu Chúa chúng ta, ảnh này quý hơn vàng bạc bội phần. Con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé!” Nếu nói đến gia đình tử đạo phải kể: anh em có Anrê Tường – Vinh sơn Tương; cha con có Án Khảm – Cai Thìn; con rể bố vợ có Lý Mỹ – Trùm Đích.
Ông Lý Mỹ vì thấy nhạc phụ là ông trùm Đích đã cao niên, mỗi cuộc tra tấn đều tự nguyện chịu đòn hai lần thay thế cho cha. Con gái ông Lý 12 tuổi, trốn mẹ vào tù thăm và thưa: “Xin cha can đảm chịu chết vì Chúa”. Cậu Tường, 9 tuổi, con trai ông không đi được cũng nhắn lời: “Cha đừng lo cho chúng con, cha cứ an tâm vững lòng xưng đạo và chịu chết vì đạo”. Vợ ông, bà Mỹ nói trong tiếng nghẹn ngào: “Vợ con ai mà chẳng thương tiếc nhưng ông hãy hi sinh vác thánh giá rất nặng vì Chúa. Hãy trung thành đến cùng, đừng lo nghĩ đến mẹ con tôi. Thiên Chúa sẽ quan phòng tất cả.”
Như thế, ta thấy những thân nhân của các vị tử đạo, tuy vẫn tiếc thương, vẫn buồn khóc, nhưng cũng can đảm vì tin tưởng yểm trợ tinh thần cho các chứng nhân. Chúng ta quan tâm đặc biệt đến hình ảnh một số bà mẹ.
Bà mẹ của Jaccard Phan, khi nghe tin con chịu chết vì đức tin đã reo lên: “Thật là tin vui, gia đình ta có một vị tử đạo”. Bà nói tiếp: “Xin chức tụng Thiên Chúa, tôi sẽ buồn biết bao, nếu con tôi chịu khuất phục trước gian khổ và cực hình.”
– Bà mẹ Castaňeda Gia, khi em trai vị linh mục đang tìm cách báo tin sao cho khéo để mẹ bớt buồn, bà hỏi: “Tại sao Jacinto của mẹ lại chết? Anh ấy chết bệnh hay bị giết?” Cậu Clementê hỏi lại: “Vậy mẹ muốn anh ấy chết cách nào?” Bà đáp: “Mẹ mong rằng Jacinto chết vì đức tin”. Clêmentê liền nói: “Thưa mẹ vâng, chính vì đức tin mà anh ấy bị giết”. Ngay chiều hôm đó, bà liền đến nhà thờ dòng Đa Minh để cùng với các tu sĩ hát lên lời kinh Tạ Ơn Te Deum.
– Bà Maria Nhiệm, thân mẫu thánh Gẫm, năm 1870, tức là 23 năm sau cuộc tử đạo của con trai, đã đến làm chứng tại tòa án phong chân phước. Bà nói: “Khi nghe tin con bị giết, vợ chồng tôi không thảm thiết gì hết, chỉ nói: chết như vậy đặng làm thánh”.
Nhưng hình ảnh nổi bật nhất là bà mẹ binh sĩ Anrê Trông, được Đức Lêô XIII, trong sắc suy tôn chân phước năm 1900, ca tụng về lòng can trường, đã theo gương “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo”. Bà có mặt trong cuộc hành quyết để dâng hiến người con trai duy nhất. Bà đi cạnh con, không than khóc, không sầu buồn, lại bình tĩnh khuyên con bền chí. Và khi đầu vị tử đạo rơi xuống, bà mạnh dạnh tiến vào pháp trường và nói với quan: “Đây là con tôi, xin các ông trả lại cái đầu nó cho tôi”. Rồi bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp của người con yêu quý, đem về an táng ngay trong nhà.

5. Kính yêu Đức Trinh Nữ Maria

Nếu nói đến đời sống các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua lòng tôn sùng Đức Maria của các vị. Lòng tôn kính đó thể hiện qua các thứ Bảy đầu tháng, với những cuộc rước Đức Mẹ long trọng, qua tháng Hoa và tháng Mân Côi mỗi năm, đặc biệt qua việc siêng năng lần chuỗi Mân Côi hằng ngày. Nhiều người đọc kinh trên đường đi và lấy chuỗi làm đơn vị tính đường dài. Một niềm an ủi lớn cho giai đoạn thời tử đạo là việc Đức Mẹ hiện ra an ủi tại rừng La Vang (Quảng Trị) năm 1798: Mẹ vẫn hiện diện để nâng đỡ khích lệ con cái mình trong những lúc khó khăn. Ở đây chúng ta lưu tâm đến một số sự kiện tiêu biểu:
Ông Năm Thuông bỏ tiền dựng một nhà nguyện kính Trái tim vẹn sạch Đức Mẹ; mỗi tối ông Lý Mỹ tập họp các phu tuần đọc 50 kinh trước khi đi công tác, linh mục Néron Bắc ăn chay các lễ vọng kính Đức Mẹ; linh mục Dụ khi biết mình sắp bị bắt đã mang theo hành trang duy nhất là một tràng hạt Mân Côi; rồi linh mục Federich Tế tự nhận là “con điên” của Đức Mẹ. Khi dừng bước ở Macao đợi tàu đến Việt Nam, ngài đã cầu nguyện:

Lạy Thánh Mẫu cao vời nhân ái,
Tấm lòng con điên dại đáng thương,
Ngày đêm nung nấu can trường,
Lòng bao la Mẹ đâu phương đáp đền.
Trong tâm tưởng con hằng mơ ước,
Khắp muôn phương loan báo Tin Mừng,
Giờ con gặp cảnh sầu thương,
Như thuyền neo bến trùng dương xa vời”

Cứ thế, các ngài đã trao phó cho Mẹ những ước vọng thầm kín của mình để xin Mẹ trợ giúp. Giám Mục Borie Cao ghi lại trong nhật ký lời nguyện ngày tận hiến cho Mẹ tại chủng viện:

“Lạy Mẹ của con, xin hãy tin nơi con, khi con trưởng thành, con sẽ hiến toàn thân cho việc cải hóa các người chưa tin. Xin Mẹ giúp con theo đường và tinh thần của ơn gọi đó. Xin cho con được đau khổ, vì Đức Kitô, được đón nhận ngành lá Tử Đạo và về đến bến vinh quang.”

Trong thư gửi cho Mẫu thân (thư 61), Đức cha Valentino Vinh đã nói lên suy nghĩ của mình, tuy có vẻ hài hước nhưng cũng tràn đầy tin tưởng:

“Mẹ à, với tràng hạt Mân Côi trong tay, với lời Kinh lạy Cha và kinh Kính Mừng Maria tươi nở trên môi, với tư tưởng thánh thiện trong tâm trí, hỏi thế giới còn chi đẹp đẽ hơn? Mẹ hãy thưa với Đức Maria về con. Lời cầu nguyện tốt ấy sẽ bẻ gẫy răng quỷ dữ…”

Đến khi đã bị bắt, kinh Mân Côi vẫn là lời kinh hằng ngày của các chứng nhân đức tin. Có khi các vị chia hai bè để đọc lớn tiếng trong tù. Giám mục Cao, hai linh mục Điển và Khoa hát vang bài “Ave Meris Stella” (Kính chào Mẹ Ngôi Sao Biển) và cầu nguyện:

“Như xưa Mẹ đã dâng Con Yêu Quý trong đền thờ, nay xin cũng hiến dâng chúng con trong cuộc tử đạo hồng phúc.”
Linh mục Hạnh, thay vì giày đạp, đã hôn kính ảnh Đức Mẹ dù bị đánh đúng 100 roi. Bà Lê Thị Thành tâm sự: “Nhờ ơn Đức Mẹ giúp sức, tôi không thấy đau đớn.”

Ngoài ra, trong thư, linh mục Schoeffler Đông tỏ ra mừng rõ khi biết tin mình tử đạo ngày 01-5, ngày đầu tháng hoa kính Đức Maria. Linh mục Hoan luôn đeo áo Đức Bà trên cổ cho đến giờ xử tử, ngài nói: “Ảnh này tôi không thể cho ai được. Đây là hình ảnh Đức Nữ Vương và là Bà Chúa của tôi”. Khi bị giam trong cũi, linh mục Cornay Tân vẫn cất tiếng hát, lính nghe hay nên báo với quan, thế là quan bắt hát mới cho ăn. Ngài kể lại trong thư rằng: “Mỗi bữa ăn tôi lại có dịp hát thánh ca chúc tụng Đức Maria”.
Cuối cùng, ngay giờ phút hành hình, các vị tử đạo vẫn cậy nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria. Linh mục Cornay Tân cầu nguyện “Xin Đức Maria chứng giám cho việc sám hối của con…” Từ trại tù ra pháp trường, hai linh mục Gia và Liêm đã hát vang lời kinhh Salve Regina (Lạy Nữ Vương) để chạy đến “Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống được vui được cậy…Xin cho chúng con được thấy Đức Giêsu con lòng Mẹ…” Bởi vì thực ra trong thâm tâm của các vị, cuộc tử đạo quả là một hiến tế cần nhờ Mẹ làm trung gian để dâng lên Thiên Chúa, như linh mục Vénard Ven đã ghi lại lời nguyện trong thư gửi Đức cha Theurel Chiêu:

“Lạy Mẹ Vô Nhiễm, khi đầu con rơi xuống dưới lưỡi gương của lý hình, xin nhận lấy tôi tớ nhỏ bé, như trái nho chín được hái, như bông hồng nở rộ được ngắt về dâng kính trên bàn thờ. Ave Maria”.

(còn tiếp)

Advertisements
%d bloggers like this: