Home > Giáo Hội Việt Nam, Tài Liệu Nghiên Cứu, TàiLiệu, TinTức > Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Phần 1 Chân Dung : Tử Đạo Là Chứng Từ

Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Phần 1 Chân Dung : Tử Đạo Là Chứng Từ

12/07/2018

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Phần 1 Chân Dung :
Tử Đạo Là Chứng Từ tr. 23tt- 

II. TỬ ĐẠO: HIẾN TẾ TÌNH YÊU

Trong Thư chung năm 1798, Giám mục Alonso Phê đã khẳng định với các tín hữu thời tử đạo rằng, nếu trong cuộc tử đạo họ không thể hiện đức yêu thương, thì kể như là vô ích, ngài viết:
“Phải lấy lời nói cùng việc làm mà xưng đạo ra cho thật thà. Phải kính mến Đức Chúa Blời trước hết mọi sự, hơn của cải, hơn mạng sống mình, lại phải yêu thương người ta bằng mình vậy, và nếu chẳng có đức yêu thương thì dù chịu chết vì đạo, cũng chẳng được gì sốt. Vì phúc tử đạo tại đức Caritas là lòng mến Đức Chúa Blời trên hết mọi sự, cùng yêu người ta bằng mình vì Đức Chúa Blời mà chớ”
Hiến tế đầu tiên của Giáo hội là Chúa Giêsu, Đấng đã tự hiến mạng sống mình vì yêu nhân loại. Các vị tử đạo đã theo sát mẫu gương của Ngài trong cuộc khổ nạn, từ vườn Cây Dầu cho đến đỉnh đồi Canvê.

1. “Xin cất chén này xa con”.

Lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu gợi lên một thái độ căn bản của các vị tử đạo là: KHÔNG CUỒNG TÍN. Không được chạy theo vinh quang giả dối, dù là bằng hành vi dâng hiến hoàn hảo nhất. Thế nhưng, khi nào Đấng Quan Phòng muốn các ngài biểu lộ niềm tin bằng hành động cụ thể, thì các vị phải đi cho trọn con đường của mình. Khôn ngoan và can đảm như hai đức tính hòa hợp nơi các thánh Tử Đạo. Họ không có quyền liều mạng. Các linh mục vẫn có nghĩa vụ sống gần các tín hữu, nhưng phải rất khôn ngoan và thận trọng. Linh mục Vũ Đình Tước diễn tả điều đó bằng câu: “ Bỏ chạy khi nào còn có thể, nếu không chạy được thì xin vây ý Chúa”.
Lời Kinh Thánh “Cáo có hang, chim có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu” thường được nhắc nhở trên môi các linh mục tu sĩ. Bị rượt ở thành này, các vị trốn qua thành khác, nhưng vẫn không ngừng hoạt động. Trong một lá thư Đức cha Cuenot Thể viết: “Dù chỉ còn một giáo sĩ chẳng làm được gì ngoài việc đọc kinh Thần Vụ, thì nguyên sự hiện diện của vị đó cũng đủ nâng đỡ niềm tin và sinh hoạt cho các tín hữu rồi”.
Ngoài ra, đến khi bị bắt, nếu có thể, các tín hữu sẵn sàng bỏ tiền để chuộc mạng cho các ngài, như linh mục Dũng Lạc hai lần được chuộc, lần thứ ba mới chịu tử đạo.
Ở đây chúng ta lưu tâm đến năm vị tử đạo trong hai dạng tự nộp mình:
a. Hai vị muốn được chia sẻ cuộc tử đạo của thầy mình, họ không thuộc nhóm 12 tông đồ ở vườn Cây Dầu bỏ thầy chạy trốn, đó là thầy Tự và linh mục Duệ.
Khi thấy cha Cao bị bắt, thầy Tự đã lẽo đẽo theo sau và xin vị linh mục nhận mình là môn sinh để chia sẻ những gian lao của ngài. Vị thừa sai cảm động trao cho thầy nửa chiếc khăn để làm kỷ vật và thầy Tự đã giữ khăn đó cho đến chết. Ngày hành quyết, thầy xin được xử ngay tại nơi đã thấm máu người cha thân yêu mình năm trước.
Còn linh mục Vũ Văn Duệ đã 83 tuổi và về hưu được sáu năm, khi đức cha Y ghé thăm và hỏi: “Cụ còn sức theo tôi lên thủ phủ Nam Định chăng?” Cha Duệ hiểu ý vị Giám mục muốn nói đến việc tử đạo nên đáp: “Khi nào đức cha bị bắt, xin cho phép con theo cùng”. Vì thế khi hay tin vị giám mục đã bị bắt, cha thường la lớn để binh lính đến bắt Ngài. Trong ngục khi biết đức cha đã bị chém, cha Duệ liền bỏ chiếu nằm đất và nói: “Giám mục là cha đã phải xử, ta là con mà nằm chiếu sao phải lẽ.”
b. Trường hợp thứ hai là ba vị tử đạo tự nộp thuế mạng cho người khác. Thứ nhất là linh mục Gioan Đạt, vừa dâng lễ xong thì quân lính vây bắt. Cha đã chạy thoát, nhưng vì để quên áo lễ, khi quay lại cha thấy quân lính tra tấn gia chủ nên ra nộp mạng và nói: “Vẫn biết tôi có thể thoát, nhưng như thế anh chị em sẽ bi khổ nhiều”.
Vị thứ hai, thừa sai Gagelin Kính, viết thư xin phép giám mục cho mình ra trình diện để tín hữu Bình Định được bình an.
Vị thứ ba là linh mục Đặng Đình Viên. Cha đã trốn an toàn trong vườn mía dày đặc, nhưng khi thấy quân lính đánh đập tra khảo con của chủ nhà, cha cũng tự động ra thế mạng. Những mẫu gương này làm ta liên tưởng đến thánh Maximilien Kolbe ở trại tập trung Đức quốc xã sau này.

2. Không để ai liên lụy

Như Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đưa tay cho quân lính bắt, nhưng yêu cầu cho các môn đệ được tự do, các vị tử đạo tuyệt đối không để ai bị liên lụy. Một người duy nhất khai tên năm sáu tín hữu vì tưởng những người này đã trốn là quan Hồ Đình Hy. Lời khai của ông làm liên lụy đến 29 người. Ông hết sức hối hận và nói: “Tôi cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô, để đén bù tội lỗi của tôi”.
Linh mục Nghi đi đâu cũng mang theo vài nén bạc, có ý giao cho lính, để chủ nhân nhà nơi ngài trọ được bình an. Linh mục Federich Tế khi bị bắt đã yêu cầu tha cho những người khác và lính đã nghe ngài, thả những giáo hữu đang bị trói. Dù bị đánh đập nhưng Đức cha Borie Cao không khai tên bất cứ ai, sau quan cho lôi thầy Tự ra đánh và nói họ sẽ đánh thầy mãi nếu ngài không khai. Thế là cha liền kể tên vài người đã qua đời, quan vui vẻ tha cho thầy Tự, nhưng khi kiểm tra lại mới biết những người đó đã chết. Quan hỏi “ Sao ông cứng đầu thế?”Cha đáp: “Thưa, câu hỏi của quan tôi không thể trả lời khác hơn được”.
Bốn linh mục âm thầm bỏ giáo xứ để các tín hữu được an toàn. Các vị đi mà chẳng biết sẽ đến đâu, đó là linh mục Đỗ Yến, Thế Điểm, Borie Cao và Néron Bắc.
Trường hợp thừa sai Schoeffler Đông bị bắt chung với một linh mục Việt và hai chú giúp lễ, khi quân lính đòi tiền chuộc, cha yêu cầu thả những người kia ra, lấy cớ chỉ có họ mới biết chỗ để tiền, đến khi họ đã đi xa, cha nói rõ ý muốn chỉ một mình bị bắt. Ngoài ra, ông Năm Quỳnh, vì làm trùm họ nên giữ sổ các tín hữu, khi thấy quân lính giữ cuốn sổ đó, ông nhắn con trai đưa 50 quan tiền để chuộc lại.
Một hình ảnh tiêu biểu nhất của việc không để ai liên lụy là linh mục Tự. Khi bị giam giữ, cha thấy trong tài liệu bị tịch thu có cuốn sổ ghi tên các tín hữu xét Kẻ Mốt, cha lén dem về trại giam, rồi tìm cách chuyển ra ngoài. Nhưng vì quân lính canh giữ quá kỹ lưỡng không thể làm gì được, cha liền bày kế xin một chiếc chiếu đắp cho đỡ muỗi, rồi nằm trong chiếu ngài nhẩn nha nhai và nuốt từng tờ cuốn sổ ấy. Dĩ nhiên “món ăn” này không hợp khẩu vị chút nào, nên mới được hai phần cuốn, cha đã thấy rát cổ không nuốt nổi nữa, phần còn lại cha đành nhai nát rồi giấu dưới gầm phản.
3. Không man trá
Khi xưa trong Cựu Ước, có cụ Elêzaro không chấp nhận giả bộ ăn của cúng, một số vị tử đạo không chấp nhận mọi hình thức bước qua thập giá trá hình. Nhiều linh mục như cha Tùy, Yến, Khanh, Hưởng, Tịnh…nhất định không khai man lý lịch là lang y dù được hứa trả tự do.
Nhiều khi quan thương tình, tìm cách giải gỡ khó khăn nơi lương tâm của các chứng nhân đức tin. Họ yêu cầu các vị giả bộ bước qua Thập giá chứ không cần làm thực sự. Với linh mục Minh, quan chỉ đòi gật đầu là sẽ ký giấy đã bước qua Thập giá. Với nhóm năm người gồm hai thầy Mậu, Úy và các anh Mới, Đệ, Vinh, quan chỉ yêu cầu “đi vòng quanh Thánh Giá”. Riêng với linh mục yến, quan vẽ một vòng tròn rồi yêu cầu bước qua vòng đó. Nhưng tất cả các vị không thực hiện vì thấy rõ đó là dấu bỏ đạo.
Trường hợp của thầy giảng Nguyễn Cần, quan nói nhắm mắt bước đại qua Thập giá, thầy đáp: “Thưa quan, mắt thì nhắm được, chứ lòng và trí không thể không nhắm được, nên tôi chẳng làm”. Một số giáo hữu đã bỏ đạo dụ dỗ thầy: “Tội nào Chúa chẳng tha, thánh Phêrô chối Chúa ba lần còn làm thủ lãnh hội thánh”. Người khác lừa dối: “Cha Retord nhắn thầy cứ bước qua thập giá, rồi về sẽ liệu sau”. Thầy Cần đáp: “ Dù thiên thần có xuống bảo tôi bỏ đạo, tôi cũng chẳng nghe nữa là cha Liêu. Hơn nữa tôi biết chắc ngài không ra lệnh cho tôi như vậy.”

4. Như một Thánh lễ cuộc đời

Thế nhưng, các vị tử đạo đã không chết vì một lý tưởng một ý thức hệ hay một tham vọng nào cả. Các ngài hiến dâng chính vì một Đấng mà các ngài yêu mến là Đức Giêsu.
Khi bị xử giáo, ông Năm Quỳnh nằm giang tay trên đất còn nói “Xưa Chúa cũng giang tay thế nào để chịu đóng đinh”. Đức cha Sanjurjo An viết: “Chớ gì máu tôi hòa với máu Đức Kitô trên đồi Canvê để tẩy rửa tôi sạch muôn vàn tội lỗi”. Linh mục Gagelin Kính nói: “Tôi ước mơ trở thành tro bụi để kết hợp với Chúa Kitô. Tôi giã từ cõi đời này, không thề thương tiếc điều gì, chỉ nhìn lên Chúa Kitô chịu đóng đinh cũng đủ an ủi tôi về mọi đau khổ và cả cái chết nữa.”
Linh mục Dụ tâm sự với người vào thăm rằng: “Sức tôi tuy đã giảm, nhưng còn chịu đựng được. Chúa chúng ta đã chịu bao hình khổ để cứu độ nhân loại. Tôi cũng sẵn lòng chịu những sự khó này để nên giống Chúa Kitô phần nào”. Linh mục Hiển lại nói: “Tôi sẵn sàng chết vì Đấng đã chết cho tôi”. Ngoài ra, tất cả các vị tử đạo đều thấy cái chết của mình như một hiến tế, tất cả đều cầu nguyện, hiến dâng đời mình trong những giây phút cuối cùng. Khi biết chính xác ngày xử, các vị thường chuẩn bị tinh thần bằng những hy sinh tự nguyện, hoặc bằng ăn chay hãm mình, hoặc bằng những thời gian dài suy niệm.
Thầy giảng Anrê Phú Yên trình bày ước nguyện: “Ước chi tôi có được ngàn mạng sống để hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa hầu đền đáp ơn Người”. và nói với mọi người: “Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp lại tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống”.
Có hai hình ảnh đáng ghi nhớ đặc biệt: Ông Tống Viết Bường, trường hợp đặc biệt xử về đêm, đã tìm cách đi chậm để xin được chết trên nền cũ nhà thờ Thợ Đúc, Huế. Chính nơi đã từng bao năm tháng các tín hữu tập dâng lên Chúa Hiến lễ tối cao là Đức Giêsu, thì cũng tại đây, ông hiến dâng chính mạng sống mình. Hình ảnh thứ hai là giám mục Henares Minh, sau khi người học trò yêu quý là thầy Chiểu bị xử trảm, ngài kính cẩn đón lấy thủ cấp của thầy, rồi dâng lên cao như một lễ vật tinh tuyền kính dâng Thiên Chúa. Cả pháp trường đều thinh lặng ngất ngây trong giây phút có một không hai đó, giây phút kết tinh trọng vẹn cuộc đời dâng hiến của một người con cái Chúa.
Như vậy tử đạo chính là một thánh lễ cuộc đời. Lá thư linh mục Hương ngày áp cuộc tử đạo nói rõ lên điều đó: “Giờ long trọng đã điểm, xin chào tất cả mọi người đã thương mến và nhớ đến tôi…Trông cậy vào lòng Đức Giêsu nhân từ, tôi tin Ngài thứ tha muôn vàn tội lỗi cho tôi. Tôi tự nguyện hiến dâng máu và mạng sống vì yêu mến Ngài, và vì những linh hồn yêu dấu mà tôi muốn phục vụ hết mình….Ngày mai sẽ là ngày hiến tế của tôi. Xin cho ý Chúa được thể hiện”. Và như Đức Giêsu xưa trên đồi Canvê, ngài kết thúc bằng lời nguyện: “Trong tay Ngài, lạy Chúa, con phó thác hồn con”.
Tóm lại, tử đạo chính là Hiến Tế Tình Yêu. Đoạn thư sau đây của Đức cha Retord Liêu gởi cho linh mục Bonnard Hương ở trong tù, tuy là một suy niệm dựa vào danh xưng vị thừa sai, nhưng tiềm ẩn bên trong ý nghĩa sâu xa của tất cả các cuộc tử đạo:
“Tôi đã chúc lành cho cha khi đã đặt cho cha danh xưng đẹp đẽ CỐ HƯƠNG, nghĩa là người cha của quê hương, là hương trầm và là hương thơm. Chính lúc này đây, quê hương yêu dấu đó đang sắp xuất hiện cho cha trong ánh huy hoàng, vì cha sắp là một trong những công dân hạnh phúc. Chính lúc này đây, hương trầm quý giá chuẩn bị đốt lên trên bàn thờ tử đạo và bay đến tận ngai Đấng Vĩnh Cửu. Chính lúc này đây, hương thơm đáng ca tụng sẽ làm hài lòng Đức Giêsu như bình thường của cô Mađalêna, sẽ làm cho thiên thần và loài người, trời và đất hân hoan vì hương vị ngọt ngào của nó”.
Vậy đó, mỗi cuộc đời tử đạo là cuộc tự hiến. Đức cha Cuenot Thể tâm sự: “ Nhìn các bạn từng người bước lên bàn thờ tử đạo, tôi thấy mình cô đơn quá, ngày đẹp nhất đời tôi là ngày được hiến tế trên bàn thờ tử đạo.” Cuộc đời các chứng nhân đức tin chịu đốt cháy trong lao khổ, trong ngục hình, và cả cái chết đều như hương trầm dâng lên Thiên Chúa, sẽ tỏ hương thơm ngát cho ngàn muôn thế hệ.
(Còn Tiếp…)

NGUỒN : HẠNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM (Măm 2018)
GPKONTUM (12/07/2018) KONTUM

Advertisements
%d bloggers like this: