Archive

Archive for the ‘Tài Liệu Nghiên Cứu’ Category

Tóm Lược Tiểu Sử Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

18/11/2017 Leave a comment

Tóm lược tiểu sử Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Phan Thông
 15/10/2017
 

 

Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000.

  1. Anrê Trần An Dũng Lạc: Sinh năm 1795 tại Bắc Ninh, Linh mục, bị xử trảm ngày 21/12/1839 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/12.
  2. Anrê Nguyễn Kim Thông(Năm Thuông): Sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Ðịnh, Thầy giảng, chết rũ tù ngày 15/07/1855 tại Mỹ Tho dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 15/07.
  3. Anrê Trần Văn Trông: Sinh năm 1814 tại Kim Long, Huế, Binh Sĩ, bị xử trảm ngày 28/11/1835 tại An Hòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/11.
  4. Anrê Tường: Sinh tại Ngọc Cục, Xuân Trường, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  5. Antôn Nguyễn Đích: Sinh tại Chi Long, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
  6. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh(Năm): Sinh năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình, Y sĩ, bị xử giảo ngày 10/07/1840 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, đước phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 10/07.
  7. Anê Lê Thị Thành(Ðệ): Sinh năm 1781 tại Bái Ðền, Thanh Hóa, Giáo dân, chết rũ tù ngày 12/07/1841 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 12/07.
  8. Augustinô Schoefler(Ðông): Sinh năm 1822 tại Mittelbonn, Nancy, Pháp, Linh Mục Thừa sai người Pháp, Hội Thừa Sai Paris, bị xử trảm ngày 1/05/1851 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/05.
  9. Augustinô Phan Viết Huy: Sinh năm 1795 tại Hạ Linh, Bùi Chu, Binh Sĩ, Giáo dân dòng ba, bị xử lăng trì ngày 12/06/1839 tại Thừa Thiên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/06.
  10. Augustinô Nguyễn Văn Mới: Sinh năm 1806 tại Phù Trang,  Nam Ðịnh, Giáo dân, dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  11. Bênađô Vũ Văn Duệ: Sinh năm 1755 tại Quần Anh, Nam Ðịnh, Linh mục triều, bị xử trảm ngày 1/08/1838 tại Ba Tòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/08.
  12. Clêmentê Inhaxiô Y(Ignatius delgado): Sinh năm 1761 tại Villa Felice, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị chết rũ tù ngày 12/07/1838 (21/6/1838 (âm lịch) tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/07.
  13. Đaminh Cẩm: Sinh tại Cẩm Chương, Bắc Ninh, Linh mục, Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 11/03/1859 tại Hưng Yên dưới thời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 11/03.
  14. Đaminh Đinh Đạt: Sinh năm 1803 tại Phú Nhai, Bùi Chu, Binh Sĩ, Giáo dân dòng ba, bị xử giảo ngày 18/07/1839 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/07.
  15. Đaminh Nguyễn Văn Hạnh(Diệu): Sinh năm 1772 tại Năng A, Nghệ An, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 1/08/1838 tại Ba Tòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/08.
  16. Ðaminh Huyên: Sinh tại Ðông Thành, Thái Bìnb, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 5/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/06.
  17. Đaminh Phạm Trọng Khảm: Sinh tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Quan Án, Giáo dân Dòng Ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
  18. Ðaminh Nguyễn Ðức Mạo: Sinh tại Phú Yên, Ngọc Cực, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  19. Ðaminh Hà Trọng Mậu: Sinh tại Phú Nhai, Bùi Chu, Linh mục Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5/11/1858 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/11.
  20. Ðaminh Nguyên: Sinh tại Ngọc Cục, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  21. Ðaminh Nhi: Sinh tại Ngọc Cục, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  22. Ðaminh Ninh: Sinh năm 1835 tại Trung Linh, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 2/06/1862 tại An Triêm dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 2/06.
  23. Ðaminh Toại: Sinh tại Ðông Thành, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 5/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/06.
  24. Ðaminh Trạch(Ðoài): Sinh năm 1792 tại Ngoại Bồi, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 18/09/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/09.
  25. Ðaminh Vũ Đình Tước: Sinh năm 1775 tại Trung Lao, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị tra tấn đến chết ngày 2/04/1839 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 2/04.
  26. Đaminh Bùi Văn Úy: Sinh năm 1801 tai Tiên Môn, Thái Bình, Thầy giảng dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  27. Ðaminh Nguyễn Văn Xuyên (Ðoàn): Sinh năm 1786 tại Hưng Lập, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 26/11/1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 26/11.
  28. Ðaminh Minh(Dominicus Henarès): Sinh năm 1765 tại Baena, Cordova, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, phụ tá địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 25/06/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngàỵ 25/06.
  29. Emmanuel Lê Văn Phụng: Sinh năm 1796 tại Ðầu Nước, Cù Lao Giêng, Giáo dân, Trùm Họ, bị xử trảm ngày 31/07/1859 tại Châu Ðốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 31/07.
  30. Emmanuel Nguyễn Văn Triệu: Sinh năm 1756 tại Thợ Ðức, Phú Xuân, Huế, Linh mục, bị xử trảm ngày 17/09/1798 tại Bãi Dâu dưới đời vua Cảnh Thịnh, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 17/09.
  31. Giacôbê Đỗ Mai Năm: Sinh năm 1781 tại Ðông Biên, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
  32. Giêrônimô Liêm(Hieronymus Hermosilla): Sinh năm 1800 tại S. Domingo de la Calzadar, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới thời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 1/11.
  33. Gioan Baotixita Cỏn: Sinh năm 1805 tại Kẻ Bàng, Nam Ðịnh, Giáo dân, Lý Trưởng, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dướiđời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
  34. Gioan Baotixita Đinh Văn Thành: Sinh năm 1796 tại Nộn Khê, Ninh Bình, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/04.
  35. Gioan Đạt: Sinh năm 1765 tại Ðồng Chuối, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 28/10/1798 tại Chợ Rạ dưới đời vua Cảnh Thịnh, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/10.
  36. Gioan Ðoàn Trịnh Hoan: Sinh năm 1798 tại Kim Long, Thừa Thiên, Linh mục, bị xử trảm ngày 26/05/1861 tại Ðồng Hới dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 26/05.
  37. Gioan Hương(Jean Louis Bonnard): Sinh năm 1824 tại Saint Christo en Jarez, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/05/1852 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/05.
  38. Gioan Tân(Jean Charles Cornay): Sinh năm 1809 tại Loudun, Poitiers, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử lăng trì ngày 20/09/1837 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 20/09.
  39. Gioan Ven(Jean Théophane Vénard): Sinh năm 1829 tại St. Loup-sur-Thouet, Poitiersm, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 2/02/1861 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 2/02.
  40. Gioan Du(Joseph Marchand): Sinh năm 1803 tại Passavaut, Besancon, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Ngoài, bị xử hình bá đao ngày 30/11/1835 tại Thợ Ðúc dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 30/11.
  41. Gioan Đỗ Quang Hiển: Sinh năm 1796 tại Quần Anh, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 9/05/1840 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 9/05.
  42. Giuse Hoàng Lương Cảnh: Sinh năm 1763 tại Làng Ván, Bắc Giang, Giáo dân dòng ba Ða Minh, Trùm Họ, Y Sĩ, xử trảm ngày 5/09/1838 tại Bắc Ninh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 5/09.
  43. Giuse Hiền(Joseph Fernandez): Sinh năm 1775 tại Ventosa de la Cueva, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 24/07/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/07.
  44. Giuse Maria Diaz Sanjurjo An: Sinh năm 1818 tại Santa Eulalia de Suegos, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, bị xử trảm ngày 20/07/1857 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1900 do Ðức Piô XII, lễ kính ngày 20/07.
  45. Giuse Melchor Xuyên(Garcia Sampedro): Sinh năm 18211 tại Cortes Asturias, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, bị xử lăng trì ngày 28/07/1858 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951, do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 28/07.
  46. Giuse Nguyễn Duy Khang: Sinh năm 1832 tại Trà Vi, Nam Ðịnh, Thầy giảng dòng ba Ða Minh, bị xử trảm ngày 6/12/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/12.

XIN XEM TIẾP…

Advertisements

Đối Diện Với Hiện Tượng Nghiện Điện Thoại Thông Minh

18/11/2017 Leave a comment

Đối diện với hiện tượng nghiện điện thoại thông minh

 

 

Với sự ra mắt trên toàn trái đất của chiếc Iphone X những ngày vừa qua, người ta đặc biệt chú ý đến bao nhiêu người xếp hàng dài chờ đợi suốt đêm trước những cửa hàng chuyên hiệu Apple để mua cho bằng được một chiếc Iphone mới, mặc dù giá rất cao, từ 1000 đô la trở lên. Điều này minh chứng một hiện tượng trong giới thanh thiếu niên thế giới đang gây thảo luận sôi nổi ngày nay là sự tùy thuộc đến mức độ có thể gọi là nghiện ngập điện thoại di động, hay còn gọi là điện thoại thông minh hoặc smarthphone.

Lẽ dĩ nhiên, tuổi trẻ thời đại nào cũng đam mê những tiến bộ kỹ thuật tối tân, nhưng ngày nay với những thế hệ điện thoại thông minh đời mới, nó trở thành một loại bệnh nghiện. Nhiều người trẻ không thể rời chiếc điện thoại di động, nhiều khi ăn uống ngủ nghỉ cũng khư khư ôm điện thoại bên mình. Họ đi vào tình trạng hốt hoảng và có những hành vi không thể kiểm soát được khi thiếu vắng chiếc điện thoại, không vào được các mạng xã hội để tham khảo. Chính vì thế, tại nhiều nơi trên thế giới, người ta đang mở ra nhiều loại bệnh viện để điều trị hiệu chứng gọi là NOMOPHOBIE, xuất phát từ chữ no mobile phobia, có nghĩa là không nghiện ngập điện thoại thông minh.

XIN XEM TIẾP…

Ngày Họp Mặt Tháng 11.2017: Theo Giáo Miền

03/11/2017 Leave a comment

Văn Phòng TGM xin thông báo đến Quý Cha và Quý Thầy Phó Tế ngày họp mặt tháng 11.2017: theo Giáo Miền:
* Miền Pleiku:
– Thời gian: từ 08g30 đến 12g30 thứ Tư, ngày 08.11.2017
– Địa điểm: Nhà thờ Thăng Thiên, Pleiku.
– Nội dung: Học hỏi Thư Mục Vụ của HĐGMVN 
* Miền Kon Tum:
– Thời gian: từ 08g30 đến 12g30 thứ Năm, ngày 09.11.2017
– Địa điểm: Nhà thờ Tân Hương, Kon Tum.
– Nội dung: Học hỏi Thư Mục Vụ của HĐGMVN
Lưu ý: Trong dịp này, Quý Cha sẽ nhận lịch Gp Kon Tum 2018.
VPTGM kính báo.
Lm Lu-y Nguyễn Quang Hoa

XIN XEM TIẾP…

Tác Động Tiêu Cực Của Smartphone Trên Thế Hệ Trẻ

30/09/2017 Leave a comment

Tác động tiêu cực của smartphone trên thế hệ trẻ

 

 

 

Nên tránh sử dụng smartphone quá nhiều – AP

(26/09/2017 10:45)

 

Đặc biệt đáng chú ý là kết quả một cuộc nghiên cứu của giáo sư Jean Twenge, thuộc đại học San Diego Hoa Kỳ, về hậu quả của các loại điện thoại thông minh smartphone trên cả một thế hệ trẻ em hiện nay.

Theo giáo sư Twenge, cuộc điều tra năm 2015 cho thấy: cứ 3 thanh thiếu niên người Mỹ, có 2 người xử dụng điện thoại thông minh Iphone. Giáo sư gọi thế hệ người trẻ này là thế hệ Igen. Họ trải qua suốt thời niên thiếu cắm đầu vào chiếc Iphone.

 

XIN XEM TIẾP…

70 Năm Nhìn Lại

11/09/2017 Leave a comment

70 NĂM NHÌN LẠI

Bước tiến của  THIẾU NHI THÁNH THỂ  (TNTT) Việt Nam và giáo phận Kontum xuất phát từ Hội Tông Đồ Cầu Nguyện (Apostolat de la prière), có nguồn gốc bên Pháp từ năm 1865 với mục đích bảo vệ tâm hồn các thanh thiếu nhi trước phong trào tục hóa đanglan tràn trong xã hội thời bấy giờ.

Năm 1929, Hội Nghĩa Binh Thánh Thể (Croisade Eucharistique, thành lập năm 1917 tại Pháp) – một ngành của Hội Tông Đồ Cầu Nguyện được các linh mục dòng Xuân Bích (Saint Sulpice) đưa vào Việt Nam. Hội Nghĩa Binh Thánh Thể đã nhanh chóng lan rộng đến các giáo phận trong nước Việt Nam vào những năm 1930-1940 của thế kỷ trước.

XIN XEM TIẾP…

Thuyết Trình 5: Đào Tạo Giáo Lý Viên Chứng Nhân Niềm Vui Tin Mừng

09/09/2017 Leave a comment

ĐẠI HỘI GIÁO LÝ TOÀN QUỐC LẦN V –
Thuyết trình 5: ĐÀO TẠO GIÁO LÝ VIÊN CHỨNG NHÂN NIỀM VUI TIN MỪNG
(31/08/2017)

 

 

Các bạn giáo lý viên quý mến, hôm nay tôi đến đây với tư cách Chủ tịch Ủy ban Giáo lý Đức tin, nhưng đồng thời cũng với tư cách một người bạn, chia sẻ với những người bạn giáo lý viên khác về một đề tài chắc chắn là hữu ích cho tất cả các bạn giáo lý viên : “Đào tạo giáo lý viên – chứng nhân niềm vui Tin Mừng”.

Trước hết, chúng ta nên đề cập đến các điều kiện và các thái độ Giáo Hội chờ đợi nơi các bạn giáo lý viên.

XIN XEM TIẾP…

Thuyết Trình 4: Dạy Giáo Lý : Đào Tạo Kitô Hữu Hiệp Thông Với Mọi Người

08/09/2017 Leave a comment

ĐẠI HỘI GIÁO LÝ TOÀN QUỐC LẦN V
 Thuyết trình 4: DẠY GIÁO LÝ:
 ĐÀO TẠO KITÔ HỮU HIỆP THÔNG VỚI MỌI NGƯỜI

 

 Đào tạo các Kitô hữu biết sống hiệp thông với mọi người có lẽ là một đề tài xa lạ với quan niệm cổ truyền về việc dạy giáo lý, nhưng thực ra đó lại là một chiều kích không thể thiếu. Qua nhiều thế hệ, việc dạy giáo lý được quan niệm như là hoạt động dạy cho tín hữu biết những điều phải “tin-giữ-xin-chịu”: tin vào Chúa, giữ các giới răn, cầu xin, chịu các bí tích. Ngày nay, việc dạy giáo lý được hiểu là công cuộc đào tạo những con người Kitô hữu sống mầu nhiệm hiệp thông : “Mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là làm cho con người không những tiếp xúc, mà còn được hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu Kitô ; nhờ đó, con người được kết hợp với Chúa Cha, với Chúa Thánh Thần, với Hội Thánh, và với nhân loại” (Hướng dẫn tổng quát việc dạy giáo lý tại Việt Nam 2017, số 39).

XIN XEM TIẾP…